CHỦ NGHĨA DÂN TỘC



Chủ nghĩa dân tộc, hay chính xác hơn là dưới một hình thức, tên gọi khác là chủ nghĩa yêu nước, là một khái niệm khá gần gũi đối với người dân Việt Nam nói riêng và đối với nhiều, nếu không là tất cả, các dân tộc trên thế giới nói chung. Ta thường được dạy đó là một trong những đức hạnh và nghĩa vụ cao quý và thiêng liêng nhất của công dân, hay thậm chí là một biểu hiện đạo đức cơ bản của con người. Nhưng khi ta nhìn sâu vào gốc rễ của biểu hiện này nó thực sự không phải là một thứ tự nhiên và trực giác lắm như ta nghĩ.

Hãy hỏi chính mình hay bất kỳ ai vì sao ta cần phải yêu nước, ta thường sẽ nhận được những câu trả lời khá mập mờ và mơ hồ: vì ta cùng máu đỏ da vàng, cùng con rồng cháu tiên, vì ta cùng nói một ngôn ngữ, vì ta cùng sống trên đất nước hình chữ S hay vì ta cùng một lịch sử bi thương hùng tráng, những lý do mà ta nghe đến mòn tai nhưng thực sự không thuyết phục lắm, nhất là khi đối diện với những biểu hiện nhất định không đẹp đẽ mấy của chủ nghĩa dân tộc – vì sao việc họ nói một thứ tiếng hay có một màu da khác lại là lý do để ta coi khinh họ và đưa dân tộc của mình lên trên hết? Có nhiều biểu hiện có thể nói là không đáng, nhưng thực ra cũng sẽ có những biểu hiện khác mà ta có thể thông cảm và biện minh được – một con dao hai lưỡi vô cùng nguy hiểm mà không mấy ai để ý. Vậy, chính xác, chủ nghĩa dân tộc là gì?

Thực ra thì chủ nghĩa dân tộc, ít nhất là về bề mặt và ở mức độ căn bản nhất, hoàn toàn có thể được giải thích bằng những câu trả lời như trên – chung một gốc gác màu da, chung thứ tiếng mẹ đẻ, chung một lịch sử, và sống chung trên một đất nước, đó là những điều kiện tiên quyết cho một thái độ, tinh thần hứng khởi về việc gộp chung một nhóm người – trong đó có bản thân – thành một khối thống nhất. Và thái độ hay tinh thần này có thể được biểu hiện qua nhiều cách khác nhau, điển hình là một sự tự hào và quyết tâm duy trì truyền thống, lịch sử hay ngôn ngữ và bản sắc, một sự gắn kết và cảm thông với đồng bào hơn so với người khác, một sự ủng hộ đất nước hay dân tộc trong các vấn đề quốc tế, hay một sự gắn kết với các biểu tượng quốc gia dân tộc - ta có thể gọi những biểu hiện đơn giản và tích cực như vậy là biểu hiện của tinh thần yêu nước. Và ở nhiều khía cạnh nó thực sự có thể là một điều tốt đối với cá nhân, như một cách để định danh danh tính bản thân, như một nơi mà ta thuộc về hay có thể trở về, như một lời an ủi hay động viên khi ta xa nhà hay gặp khó khăn (như khi tìm được đồng hương hay khi có một trận bóng lớn), và như một cách để thống nhất một nhóm người lớn hướng tới một mục tiêu chung (nhất là những mục tiêu tốt đẹp hơn).

Và theo mạch tích cực này ta tìm thấy một lý do quan trọng cho tinh thần yêu nước: chủ nghĩa chống thực dân, đấu tranh giải phóng và đòi quyền tự quyết của các dân tộc bị áp bức và thuộc địa. Đây là một điều khá đơn giản và dễ hiểu, một cuộc đấu tranh mà hơn ai hết ta có thể hiểu được: một cuộc đấu tranh đòi lại những quyền mà ta bị cướp lấy từ tay những kẻ thực dân và áp bức, đấu tranh để giữ gìn tiếng nói, lịch sử và phong tục tập quán từ hàng trăm, hàng ngàn năm của ông cha khỏi bị xóa sổ khỏi bản đồ thế giới. Nhưng một điều cần lưu ý là chủ nghĩa dân tộc còn là một khái niệm khá mới mẻ nếu ta so với suốt chiều dài lịch sử: nhiều cuộc đấu tranh đánh đuổi ngoại xâm lúc xưa chưa gán cho mình một tinh thần yêu nước - mà thường là một tinh thần "trung quân ái quốc", với 'quân' - là vị vua, hoàng đế đứng đầu làm tiền đề cho một 'quốc gia'; ở Việt Nam cũng thế, với chủ nghĩa dân tộc hay yêu nước chỉ bắt đầu thành hình khi các giá trị 'tự do-bình đẳng-bác ái' theo gót chân xâm lược của người Pháp du nhập vào trí thức Việt Nam, và thật sự bùng nổ vào thời điểm cách mạng tháng Tám xảy ra. Nhưng ta sẽ trở lại với chủ đề này sau.

Dưới hoàn cảnh chống thực dân, các dân tộc bị áp bức sẽ đưa hình tượng văn hóa và lịch sử của mình – nghĩa là họ có thể đem một khái niệm trừu tượng để thống nhất một toàn thể số người mà trước đó không mấy liên quan đến nhau. Và thay vì gán cho lịch sử làm một quá khứ của một nhóm người đã chết từ lâu hay gán cho văn hóa một giá trị đơn giản như lối sống, các dân tộc này lấy lịch sử, văn hóa ấy để định danh cho chính danh tính của bản thân các cá nhân và sử dụng đó làm bàn đạp để thống nhất lại các cá nhân của dân tộc đó với nhau - không chỉ thống nhất qua đau khổ và sự áp bức, bởi ta không thể định nghĩa danh tính của mình bằng sự đau khổ được, mà còn qua văn hóa và lịch sử - và tiến tới đấu tranh đánh đổ bọn áp bức.

Đó là lý do vì sao những cuộc đấu tranh mà lấy dân tộc làm tiền đề thường có tiếng vang và hưởng ứng rất lớn, trong khi những cuộc đấu tranh như của công nhân – những phong trào vô trị hay cộng sản – lại khó đạt được mục tiêu hơn: người lao động thường không có khái niệm về danh tính bản thân như người lao động thuộc về một giai cấp vô sản lớn hơn hay kẻ thù của anh ta là giai cấp tư sản, những khái niệm vô cùng trừu tượng so với tiếng nói và văn hóa. Về vần đề này sẽ được làm sáng tỏ hơn sau.

Nhưng ta vẫn có một hình ảnh khác hiện lên khi đề cập tới chủ nghĩa dân tộc, nhất là khi ta đối lập nó với chủ nghĩa yêu nước (thay vì gọi yêu nước là một hình thức của dân tộc), một hình ảnh mà thường được gọi với tên chủ nghĩa sô-vanh (chauvinism). Nhiều người có thể hiểu đây là một biến tấu không đáng có của chủ nghĩa dân tộc – nhưng như đã nói ở trên, cả hai dạng này đều là hai lưỡi của cùng một con dao, hai mặt của cùng một đồng xu: một lưỡi để phá vỡ xiềng xích, một lưỡi lại để đâm lên người khác.

Ta thường có một sự đồng cảm nhất định cho những gì quen thuộc với ta, và khi tồn tại một tinh thần hay âm hưởng thống nhất dân tộc - biến những gì quen thuộc ấy thành một phần danh tính của chính ta - sẽ có một nguy cơ nhất định là từ chỗ đồng cảm ấy, không chỉ trở nên một sự tự hào khi thành tựu của những cá nhân khác được tích hợp vào cá nhân mình, mà còn trở nên cực đoan theo một cách nhất định. Đối với kẻ yếu, những kẻ bị bóc lột và áp bức và sau đó đấu tranh cho tự do trên nền tảng thống nhất dân tộc, rất dễ để gán cho cái mác 'ta' và 'họ', trong đó 'ta' là dân tộc của ta, còn 'họ' có thể không chỉ là những kẻ áp bức, mà thậm chí còn là dân tộc của kẻ áp bức, và từ đó lại thành ra những dân tộc 'khác' nói chung.

Nhưng đừng tưởng chỉ kẻ yếu mới tồn tại tư tưởng này như một 'cơ chế phòng vệ' của người bị thất thế. Không khó để bắt gặp chủ nghĩa dân tộc trong ngữ cảnh của kẻ gây hấn. Nó có thể bộc phát dưới dạng phân biệt chủng tộc và tôn giáo một cách hàm hiện, nghĩa là nó không che giấu cái ảo tưởng thượng đẳng về dân tộc hay chủng tộc của mình bằng những lý do lý trấu ít rõ ràng hơn. Ta thấy những ví dụ điển hình như Đức Quốc xã (đối với người Do Thái), Thổ Nhĩ Kỳ (đối với người Armenia hay Kurd) hay Israel (đối với người Palestine) v.v. nơi những hành động diệt chủng dân tộc thiểu số được thực hiện với mục đích rõ ràng là tạo ra một quốc gia thuần khiết về sắc tộc, không lẫn một giọt máu bẩn nào (cũng tồn tại những cuộc diệt chủng mà không được động lực bởi một tinh thần dân tộc). Hay khi không có một sự diệt chủng cực đoan, thái quá như vậy, sự bài ngoại dân tộc vẫn phát sinh bằng cách tạo ra một con người rơm nơi dân tộc thiểu số. 

Ta thấy điều này khắp nơi ở phương Tây trong khủng hoảng di cư những năm gần đây, như một làn sóng phản hồi đối với sự thất nghiệp và dĩ nhiên, khủng bố. Từ những phàn nàn như 'người di cư cướp hết việc làm và trợ cấp của chúng ta' hay những định kiến như 'người ả-rập cực đoan và sẽ giết chúng ta đấy đừng giao du lại gần làm gì', lại dần phát sinh những nhóm bài ngoại, những đảng phái chống nhập cư, những vụ khủng bố 'trả thù' và dần dà, một phong trào dân tộc cực hữu mong muốn thành lập một sự thuần tộc, từ việc bằng cách đổ lỗi hết lên đầu dân tộc thiểu số và người di cư đến một sự thượng đẳng dân tộc hàm hiện. 

Đảng Cộng hòa của Trump ở Mỹ, Front National của Le Pen ở Pháp, AfD ở Đức, Bolsonaro ở Brasil, Modi ở Ấn Độ, Orban ở Hungary, Erdoğan ở Thổ Nhĩ Kỳ và vô số các đảng dân tộc cực hữu khác, một số thậm chí đã và đang nắm quyền ở Trung và Đông Âu, Mỹ Latin, Trung Đông và Nam Á đều dùng hình thức dân túy mị dân, gây hấn đối với dân tộc thiểu số hay những dân tộc 'thù địch' khác và kêu gọi sự thống nhất 'dân tộc' để đấu tranh lại những thế lực này như cách để thu hút cử tri. Cộng với sự kêu gọi mở cửa thị trường 'tự do', cắt giảm chi tiêu dân sự, tăng cường chi tiêu 'quốc phòng' và đàn áp các phong trào lao động cánh tả, việc họ đã thành công ở nhiều nơi như thể đánh dấu một sự trở lại của chủ nghĩa phát-xít.

Vậy bản chất của chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam là gì? Dĩ nhiên ở Việt Nam thì chủ nghĩa dân tộc cực đoan như trên *chưa* có biểu hiện nào rõ rệt cả. Một điều đáng để ý ở Việt Nam đó là một sự hòa thuận nhất định ở mặt ngoại giao đối với hầu hết tất cả các quốc gia dù thù địch và đối lập đến mức nào, như việc nhận ủng hộ quân sự từ một nước a-pác-thai và thực dân như Israel trong khi nhận trợ cấp và ủng hộ hai chiều công nghệ-kinh tế đối với một nước XHCN như Cuba ¯\_(ツ)_/¯; cũng như là ở những chính sách ưu tiên đặc biệt đối với dân tộc thiểu số. Và đến một mức độ nào đó, điều đó cũng thể hiện qua thái độ của người dân nói chung: một sự tha thứ và thậm chí là thân thiện phi thường đối với những quốc gia xâm lược như Mỹ và Pháp (Trung Quốc thì không may mắn bằng), một sự yêu thích và tìm tòi văn hóa khá đa dạng, từ phương Tây, Đông Á đến các nước Nam Á khác, và một sự hòa thuận đối với dân tộc thiểu số. Nhưng ta vẫn thấy nhiều biểu hiện khá đáng lo và cần phê phán của chủ nghĩa dân tộc cũng như là 'ăn theo' chủ nghĩa dân tộc, nhất là khi trộn lẫn vào trong đó là thêm một mâu thuẫn buồn cười nữa.

Chủ nghĩa dân tộc Việt Nam, như đã đề cập ở trên, bắt nguồn từ các cuộc cách mạng và kháng chiến chống Pháp, nhất là từ Cách mạng Tháng Tám, khi chủ nghĩa dân tộc không những chỉ được sử dụng để làm một động lực chống thực dân mà còn được dùng để củng cố cho một phong trào lao động - không chỉ là một cuộc cách mạng dân tộc mà còn là một cuộc cách mạng vô sản; hay ít ra các nhà lãnh đạo cách mạng đã mong vậy. Bởi lẽ, với một cuộc cách mạng giành độc lập tư sản như ở Pháp hay ở Mỹ thì quyền tự do và độc lập gần như chỉ là nói xuông khi người lao động vẫn còn bị giam mình trong tư bản, và mấy thứ tự do độc lập dân chủ ấy chỉ dành cho người giàu; nên cách duy nhất để thực sự giải phóng tất cả đó là một cuộc cách mạng vô sản. Ừm, nghe giống sách giáo khoa, nhưng mà có một vấn đề ở đây.

Phong trào này gần như chỉ được hưởng ứng bởi tính chất dân tộc của nó, và do đây còn là một thế lực khá mong manh nên việc áp đặt một tính chất vô sản thuần túy - nghĩa là khai trừ những đóng góp từ thương nhân, doanh nhân và địa chủ, thành phần của giai cấp tư sản - làm giảm đi nhiều khả năng của cách mạng. Nên từ đó ta thấy trong sách giáo khoa những thứ vô cùng nghịch lý như vừa tuyên bố một cách mạng vô sản vừa tung hô các doanh nhân nuôi quân - có thể là một điều cần thiết nhưng lại không hề được đề cập đến như một nghịch lý. Bởi vì dường như tính chất của cuộc cách mạng, dưới mắt của người dân, chỉ còn lại thuần túy là 'giành độc lập tự do cho dân tộc', đến cả sau hiệp định Genève khi đất nước bị chia làm hai, chính phủ miền Nam được tô vẽ như chính quyền bù nhìn của đế quốc Mỹ mà không có một đề cập gì tới bản chất tư bản của nó, trong khi ngược lại nhiều thành phần ở phía miền Nam coi xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc như một thứ độc ác cần phải trừ tà. Ở phía Bắc không ai thực sự biết mình đang chống lại cái gì, và khi sau thời bình nước Mỹ được nhìn thấy bởi công chúng như một miền đất hứa của 'tự do' và 'dân chủ', khi nhiều người thấy những nước được hậu thuẫn bởi Mỹ như Hàn Quốc (Triều Tiên có tình huống khá giống Việt Nam khi bị chia làm hai) hay Nhật Bản phát triển mạnh về kinh tế trong khi vẫn 'độc lập' và 'tự do', sẽ không khó để nhiều người bị gạt sang thế phản động thân Mỹ.

Đáng lẽ ra đây phải là một cuộc cách mạng vô sản: thực sự bởi dân, do dân, vì dân. Dù một sự quá độ lên XHCN vẫn còn có thể là một giấc mơ xa vời, ít nhất đáng ra phải tồn tại một tinh thần cách mạng thực sự - nhưng điều đó đã bị lu mờ bởi dân tộc chủ nghĩa. Một sự lầm tưởng rằng cách mạng chỉ xoay quanh độc lập tự do đã mang đến khá nhiều tai hại, nhất là từ thời bình và từ Đổi Mới. Một cuộc đấu tranh vũ trang chống đế quốc cũng như phản động và tư bản bị giảm xuống thành chống Mỹ đơn thuần, và trải nghiệm những năm cải cách ruộng đất và bao cấp cũng đã khiến nhiều người quay lưng lại với XHCN dù họ không biết điều đó, do nhà nước đã kịp thời 'Đổi Mới' và giữ vững quyền lực: Đảng Cộng sản không còn là Cộng sản mà đã trở thành Đảng Dân-tộc-Yêu-nước. 

Và giờ đây diễn ngôn chính thức của nhà nước gần như chỉ xoay quanh 'yêu nước'; một tinh thần cổ vũ liên miên 'yêu Tổ quốc yêu đồng bào' với 'làm tròn trách nhiệm với đất nước' - những câu cổ vũ rất được tích cực hưởng ứng bởi không ai khác ngoài giới tư nhân trong các sản phẩm và quảng cáo của họ, còn XHCN thì chỉ được gán vào tên văn bản, từ "đồng chí" cứ quăng quật khắp nơi, còn hình Bác Hồ và búa liềm giờ chỉ gợi nên lịch sử hào hùng của dân tộc - một hình ảnh nực cười khi thấy các tỷ phú nói chuyện thân mật với chính quyền ngay cạnh cờ búa liềm. Tinh thần yêu nước cứ được nhồi nhét liên hồi vào não học sinh - những đứa con nít chưa vắt sạch mũi hát vang bài ca ca ngợi Đảng và Bác Hồ, những giáo trình dày đặc thơ ca cách mạng, những buổi hát quốc ca hay đọc 5 lời Bác Hồ dạy, những cuộc tập dượt Đội Đoàn - đối với bọn nó thì có ý nghĩa gì ngoài một sự tra tấn tinh thần? Mối quan hệ tay ba giữa yêu nước, tư bản và 'cộng sản' ở Việt Nam vớ vẩn đến nực cười.

Ngoài ra ta cũng có thể dùng những chỉ trích cơ bản hơn đối với dân tộc chủ nghĩa để áp dụng lên Việt Nam. Ví dụ như những trận cầu. Thắng thì hết lượt quà này đến lượt quà khác của giới doanh nhân cứ thi nhau đổ vào túi các cầu thủ (hay liên đoàn bóng đá) trong khi bao nhiêu đó có thể đóng góp biết bao cho xã hội, rồi những cuộc ăn mừng đổ ra đường như điên như dại; nhưng đáng sợ hơn là khi thua, từ trọng tài đến cầu thủ đối phương đối mặt với tràn ngập những lời phỉ báng, chửi rủa. Lúc này, những trận bóng ấy chẳng khác nào công cụ để quảng bá, nói đúng hơn là để áp đặt lên đó chủ nghĩa dân tộc. Có thể tôi sẽ bị lên án là tự nhục dân tộc khi viết những lời sau đây, nhưng hãy nhìn Nhật Bản mà xem? Một ông lão, tức là sống gần với năm 1945 kinh hoàng của Nhật Bản hơn bất cứ người trẻ nào hết, vẫn có thể thân thiện mà chào đón các đoàn cổ động viên tới Nhật. Khi Nhật Bản rời đi sau thi đấu xong ở một trận cầu nào đó, các cánh phóng viên chẳng hề tìm thấy một cọng tóc ở phòng thay đồ của họ. Còn nước ta, luôn mồm giảng giải phải yêu nước, thế mà ngay tại nước ta, nào thì nổ FB trọng tài, nào thì rác rưởi quăng quật bừa bãi đầy đường. Thử hỏi, cái đấy thì giảng "yêu nước" ai thèm nghe?

Hay là Trung Quốc chẳng hạn, một 'kẻ thù truyền kiếp' của dân tộc Việt Nam. Thật dễ hiểu khi đã quá nhiều lần Trung Quốc đem quân xâm lược Việt Nam, từ thuở khai quốc đến tận mới vài chục năm trước, gây ra bao nhiêu khổ đau và mất mát cũng như suýt nữa xóa tận gốc văn hóa nước nhà. Nhưng những điều đó không thể biện minh cho những thái độ và biểu hiện thù hận, gây hấn mà một số thành phần người Việt Nam đã có đối với người Trung Quốc (không chỉ nhà nước mà kể cả người dân và văn hóa Trung Hoa), nhất là trong những bối cảnh như vụ đảo Gạc Ma, vụ giàn khoan 981 hay những tranh chấp khác về biển Đông. Những từ ngữ hay ám chỉ phân biệt chủng tộc như 'tàu khựa' hay 'ching chong' được sử dụng liên tục, những chế nhạo về ngôn ngữ văn hóa, những nhận định thô tục về các vấn đề như dịch bệnh từ Vũ Hán hay những đợt lũ gần đây ở Trung Quốc và thậm chí những vụ bạo loạn, phá hoại công ty, nhà máy của các doanh nghiệp Trung Quốc hồi năm 2014 (một phần do thành phần phản động nhúng tay vào, nhưng chủ nghĩa bài Tàu ở chính người dân cũng là một phần lớn) đều là những biểu hiện của cái 'cơ chế phòng vệ' của kẻ bị áp bức đối với kẻ áp bức như trên. Thay vì tấn công những tên thực dân, đế quốc, bỗng dưng cả một dân tộc lại phải hứng chịu cơn thịnh nộ của những người mình chưa làm gì.

Dĩ nhiên thì chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam, như đã nói ở trên, chưa đạt tới một mức độ cực đoan như những nơi khác, và kể cả những cử chỉ phân biệt chủng tộc hay dân tộc quá khích cũng không phải thuộc về một số *quá* đông - một trong những điều mà người Việt Nam vẫn tự hào nhất trong mắt bạn bè quốc tế là sự hiếu khách và thân thiện. Nhưng ta vẫn cần phải truy vấn - thực sự điều gì mới là quan trọng? Liên tục thổi phồng cái tôi quốc gia lên bằng cách nhồi sọ học sinh bằng diễn ngôn dân tộc hay dồn dập những biển báo, băng rôn, khẩu hiệu, phát ngôn, diễn thuyết, thi thố, tin tức, thơ ca, âm nhạc, phim ảnh, sân khấu, thời trang, nhãn hiệu, quảng cáo củng cố yêu nước? Thổi phồng một danh tính trừu tượng để an ủi cho cái cuộc sống địa ngục của tư bản trong khi tạo ra mầm mống cho phản động, phân biệt chủng tộc, bài ngoại? Ở đây không ám chỉ một sự phủ định tuyệt đối đối với chủ nghĩa yêu nước như một bàn đạp cho các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chống đế quốc, cả của Việt Nam nói riêng cũng như nhiều dân tộc bị áp bức khác nói chung trên toàn thế giới. Nhưng cũng như đã được chỉ rõ, chủ nghĩa yêu nước cũng không hề là mục tiêu cuối cùng ta nên chiến đấu; nó là một công cụ, không phải cái kết. Giờ ta phải tự hỏi lại, ta đang phấn đấu cho cái gì, và cái gì mới thực sự đáng phấn đấu?

strauss

Nhận xét

bài khác