Bourdieu trường ký
1. Sơ nét khái niệm
Nói chung, khi đọc Bourdieu, có lẽ người ta sẽ thường thấy khó chịu ở hai điểm: thứ nhất là lối viết câu văn dài dòng, không hồi kết của ông (ở bản dịch tiếng Việt, việc đọc thấy một câu được viết lan tràn 18 dòng không phải là hiếm), góp phần làm nên độ phức tạp cho công việc thông hiểu và diễn giải tác phẩm của ông; và thứ là việc ông thường nhắc tới các khái niệm ở các tác phẩm trước đó của ông kiểu “như tôi đã nói ở tác phẩm trước” và cứ thế ngồi viết, làm độc giả phải đọc chú giải muốn rớt con mắt. Vậy nên, khi viết về cuốn “Sự thống trị của nam giới” mà tôi vừa đọc đây, việc làm rõ những khái niệm và các hệ thống lý luận mà ông sử dụng xuyên suốt tác phẩm của mình có lẽ là một công việc cần thiết, hay ít nhất là viết để tôi có thể củng cố lại kiến thức của mình cho chắc chắn hơn. Một số khái niệm và nền tảng lý luận mà Bourdieu sử dụng trong tác phẩm có thể kế đến như habitus/ý hướng, quá trình vĩnh viễn hoá (đi kèm với mô hình lễ nghi - huyền thoại), quan hệ của quyền lực (cụ thể là trong ngữ cảnh về sự thống trị) và “bạo lực tượng trưng”.
Trước hết, nói về habitus (hay nhiều lúc Bourdieu còn gọi là “ý hướng” trong tác phẩm này). Có thể hiểu habitus như một kiểu khuynh hướng tinh thần, cách thức hiện hữu hay tư thái; đó là tổng thể của những khuynh hướng cố hữu và có khả năng chuyển dịch, sản phẩm của quá trình giáo hoá xã hội và có thể được sử dụng để biểu hiện trong xã hội và/hoặc diễn giải xã hội. Một cộng đồng, nói chung, hay có thể là cùng một loại người, có thể phân ra thành nhiều habitus, tuỳ vào tiêu chuẩn mà người ta đang xét tới. Ví dụ, trong cộng đồng học sinh, ta có thể có habitus-trường-chuyên, với những nếp sống, nếp nghĩ được kiến tạo nên không chỉ bởi những bạn học đồng lứa hay giáo viên, mà có thể còn là từ những vị phụ huynh “cấp tiến” muốn con em mình có thật nhanh tấm bằng IELTS chẳng hạn. Hiển nhiên, việc mang trong mình habitus ấy sẽ khiến cho cậu ta có những biểu hiện khác với habitus-trường-thường, ví dụ như sẽ khát những tấm bằng như khát máu, hoặc sẽ có những diễn giải về thế giới khác hơn mà người ta gọi là “nói chuyện có học thức”. Tất nhiên, sống trong cộng đồng như vậy, không có gì đảm bảo rằng một người sẽ là hiện thân của habitus ấy, tức là mang trong mình tất cả mọi đặc điểm của một habitus lý tưởng không sót cái nào, nhưng chắc chắn sẽ mang một phần nào đó của habitus đó. Ví dụ như cùng là học sinh trường chuyên, không phải ai cũng khát bằng cấp, nhưng có thể hắn sẽ khát một thứ gì khác, như tri thức, hay những thú chơi nào đó của một học sinh “trường chuyên”.
Tiếp theo sẽ là một mô hình khá rắc rối mà ông gọi là “vĩnh viễn hoá điều võ đoán”. Quy trình của cuộc vĩnh viễn hoá ấy là thế nào? Như cái cụm mà tôi vừa đưa ra bên trên, “vĩnh viễn hoá điều võ đoán”, thì cái nguồn gốc của cuộc vĩnh viễn hoá ấy là từ điều võ đoán trước. Nói một cách vắn tắt, quy trình này là quy trình đảo ngược mối quan hệ nhân quả: có kết quả trước rồi mới có nguyên nhân. Đầu tiên, người ta sẽ tạo ra một quan niệm nào đó không có cơ sở, và bất khả kiểm chứng, mà theo Bourdieu sẽ gọi là “điều võ đoán” - những mệnh đề mang tính chủ quan - và đi tìm những ví dụ hay lý luận để làm tôn lên luận điểm của mình, nghe sao cho thật logic, để nó có thể chập chững mang tính khoa học và hợp lý. Ở đây, xét trên bình diện xã hội thì ta sẽ có quá trình gọi là “kiến tạo xã hội”, nơi mà chọn lọc lý luận sẽ đóng một vai trò chủ chốt. Tức là sao, những lý luận có tính xây dựng và củng cố cho những luận điểm phe thống trị đề ra sẽ được tiếp thu còn các lý luận chống sẽ bị đào thải. Đôi khi những luận điểm võ đoán ấy thậm chí sẽ vô căn cứ vl nên để có thể xây dựng nên, chúng sẽ được điều chỉnh sao cho gần với những điều kiện khách quan nhất (ví dụ lôi chuyện sinh đẻ hoặc thể trạng phụ nữ ra làm nền cho bất bình đẳng). Từ đó, sự hợp lý của lý luận sẽ xuất hiện, và khi nó - tức là luận điểm vô căn cứ, đã trở nên có căn cứ, thì người ta sẽ bắt đầu suy ra một loạt những lý luận liên quan và/hoặc ứng dụng thẳng vào đời sống; những lý luận hay ứng dụng ấy lại quay vòng về củng cố thêm cho luận điểm võ đoán được đặt ra ban đầu. Một trong những thực tiễn của quá trình vĩnh viễn hoá này là mô hình “lễ nghi - huyền thoại”. Nghi lễ, có thể nói là một phiên bản tái hiện nhân tạo của những huyền thoại, tức là những tự sự mang tính biểu tượng đã ăn vào tiềm thức của con người trong cộng đồng ấy. Ví dụ như nghi lễ “cắt tóc lần đầu” của người Kabylie đối với đứa con trai, theo Bourdieu, là quá trình tái hiện một tự sự về sự dứt bỏ khỏi người mẹ, thể hiện sự độc lập và cương quyết của đứa con trai. Mô hình này không chỉ đóng vai trò như một sự “vĩnh viễn hoá”, tức là tự nó củng cố cho chính nó và kiến tạo thêm về mặt nó đang xây dựng (ví dụ như nghi lễ của người Kabylie củng cố cho quá trình khu biệt giới ở cộng đồng họ), mà còn là tiền đề cho một công việc khác diễn ra trong xã hội: “bạo lực tượng trưng”.
Nói về bạo lực tượng trưng, có thể hiểu như này. Nó khác với kiểu bạo lực vật lý, tức là nếu một thằng đập, thằng còn lại sẽ phản kháng, và có thể được quan sát bằng mắt thường. Bạo lực tượng trưng là sự đè nén phi vật lý, không chỉ nằm ở sự áp đặt của phe thống trị mà còn là nằm ở sự đồng lõa trong vô thức của phía bị trị, vận hành bằng cách du nhập từ từ, nhẹ nhàng vào tiềm thức người ta sau một quá trình “lịch sử hoá” (ví dụ như quá trình “vĩnh viễn hoá” đã nói ở trên). Lâu dần, nó sẽ trở thành một điều gì đó quá hiển nhiên, ai cũng chấp thuận và làm theo chứ chẳng còn mất công đi kiểm chứng nữa. Không thể không nói rằng trên thực tế, vẫn có nhiều bộ phận người, trong cộng đồng đang bị “bạo lực tượng trưng” bao trùm lên, cố giằng mình ra khỏi nó. Tuy nhiên, thứ nhất, việc vẫn chấp thuận những điều kiện khác trong “bạo lực tượng trưng” làm họ không thể tách rời ra một cách hoàn toàn, sớm muộn cũng bị các điều khoản khác kéo ngược trở lại; và thứ hai, ta đã bàn rằng đây là việc làm của vô thức, nên một hành động “giằng” ra một cách có ý thức sẽ không thể triệt để giải quyết được vấn đề, mà phải là đi truy xét tận nguồn của những vô thức ấy và đảo ngược lại quá trình nó du nhập vào các habitus. Ngoài ra, một cái hại mà “bạo lực tượng trưng” mang lại, trong ngữ cảnh về giới, có lẽ không chỉ phe bị trị mà phe thống trị cũng là nạn nhân của chính họ, tự giam mình trong cái khung của những điều khoản do họ tạo ra và chấp thuận.
2. Nguồn gốc của sự phân biệt
…Vậy từ đâu mà có sự phân biệt giữa các giới?
Tôi nghĩ phần lớn thì là do sự ngầm thống nhất giữa cả 2 ý hướng là thống trị và bị trị, tức là một phần của bạo lực tượng trưng. Nhưng vì sao nó lại được thống nhất? Tôi nghĩ là vì nó đã trải qua một quá trình kiến tạo lâu dài và được làm cho trở nên hợp lý bởi nhiều cách thức khác nhau.
Trước hết thì nó xuất phát từ những cái mang tính khách quan, tức là cái mà nhìn vào đã thấy và không việc gì phải bàn cãi, trước. Và nếu phải kể ra đặc điểm nào đó mà nam và nữ khác nhau, theo một cách khách quan, thì tôi nghĩ đó sẽ là bộ phận sinh dục. Nói về bộ phận sinh dục của người đàn ông, so với cái tương tự ở người phụ nữ, thì ta sẽ có ngay rất nhiều các cặp tính chất nhị nguyên có thể quan sát thấy. Ví dụ, nếu nói về bộ phận sinh dục nam, họ sẽ có thể diễn tả rằng đó là cái ở ngoài, so với bộ phận sinh dục nữ là cái ở trong. Tương tự, ta sẽ có trường hợp của khô ráo - ẩm ướt, cao - thấp, thẳng - cong, dựng đứng - nằm im,... Tất nhiên, không phải chỉ có bộ phận sinh dục là cái khách quan duy nhất, bởi nhiều lúc những hành vi mang tính truyền thừa lâu đời (ví dụ như cách thức quan hệ tình dục,...) cũng góp phần vào việc kiến tạo nên những chuyện vậy. Ấy là cái mà ta có thể gọi là các “hình học giới tính”. Thì ở đây, do chúng là cái có thể được quan sát, và vì mỗi người quan sát có thể có một góc nhìn - diễn giải khác nhau, nên chỉ với bấy nhiêu đặc điểm khác nhau họ có thể tạo ra thêm rất nhiều các lý luận khác. Ví dụ như cặp “trong - ngoài” chẳng hạn, thì họ có thể suy ra thêm một tầng như là “trong nhà - ngoài xã hội”. Với những cặp nhị nguyên thứ cấp được xây dựng nên như vậy, những hệ thống định kiến được hữu hình hoá và trở nên có hệ thống. Nói về sự phân công lao động chẳng hạn. Việc mà người phụ nữ thường xuyên phải làm việc ở khu vực riêng tư (cụ thể là nhà bếp hay phòng ngủ - so với phòng khách của người đàn ông; hoặc trong nhà so với ngoài xã hội; mà có thể hiểu như triết lý sống “đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm” của người xưa) có thể hiểu đó như là hệ quả của quá trình suy ra từ mối quan hệ giữa trong - ngoài; người đàn ông có quyền tự do phát biểu ý kiến của mình về công việc (hay kể cả bất cứ lãnh vực nào khác trong xã hội) RA NGOÀI với sự NGẨNG đầu ngạo nghễ, ngược lại so với đàn bà chỉ có thể im ỉm giấu tâm tư BÊN TRONG với vẻ thẹn thùng CÚI MẶT. Nam giới có thể được tham gia vào các ngành kỹ thuật đông đảo, vì chúng thường phải sử dụng tới những “khí cụ” (tool/machine), tương tự như liên tưởng về bộ phận sinh dục của nam giới. Tương tự, về mặt quyền lực thì người phụ nữ vẫn thường phải cư xử như những ý hướng NẰM DƯỚI, so với sự thống trị của nam giới. Có hai lý do mà những suy diễn này được truyền giữ lâu dài, nếu không muốn nói là vẫn đang trôi nổi đâu đó ngoài kia hiện nay. Thứ nhất, vì nó được suy ra từ những cái khách quan nên trông chúng như thể là sự khách quan hoàn toàn, mặc dù như vừa nói phía trên thì những diễn ngôn ấy chỉ là “diễn giải”, mà đã nói như vậy đồng nghĩa nó tất sẽ chứa yếu tố chủ quan trộn lẫn với khách quan trong đó. Thứ hai, chúng còn sống là vì, không chỉ chúng được tạo ra, mà còn liên tục được củng cố và tái sản xuất về ý nghĩa cho chính nó, bởi xã hội, hay nói cách khác là dựa vào ảnh hưởng của quá trình kiến tạo xã hội.
Ta nhớ lại mô hình lễ nghi - huyền thoại đã bàn ở kỳ trước. Đó có thể hiểu như là một dạng “kiến tạo xã hội” vừa được phân tích ở trên. Và như đã phân tích ở kỳ trước, thì quá trình “kiến tạo xã hội” vận hành theo cách tuần hoàn, tức là nó liên tục tự củng cố chính nó và các thành tố cấu tạo nên nó. Sự kiến tạo nên khu biệt giới không nằm ngoài quy luật ấy, và phần lớn đã được đóng góp bởi mô hình “nghi lễ - huyền thoại” - một sự thiêng hóa, mà phần đông con người ta khi thấy điều gì linh thiêng sẽ nhắm mắt làm theo, hiếm khi tra vấn về độ hợp lý của nó. Như ở Việt Nam chẳng hạn, ta thường nghe tới những sự thực hành kiểu như “nam tả nữ hữu” hay “nam thực như hổ, nữ thực như miêu”,... Khi mà người ta thực hành đủ lâu những chuyện đó, họ sẽ dần dần coi chúng như là điều hiển nhiên. Vấn đề ở đây không phải là sự hiển nhiên ấy là độc lập khỏi cỗ máy khu biệt giới tính khổng lồ, bởi nó góp phần đục ra một lỗ hổng trong tâm thức của ta, cái đi trước mở đường cho cái đi sau và cứ thế những thực hành kiểu vậy sẽ chồng chất lên nhau. Đó là tiền đề để “bạo lực tượng trưng”, khái niệm mà kỳ trước tôi cũng đã có giới thiệu, được hình thành, khi mà người ta, kể cả là phe thống trị hay bị trị, đều cùng vô thức đồng thuận với sự bạo lực đang áp đặt lên chính họ.
Một trong những đóng góp quan trọng vào quá trình khu biệt giới, là sự tác động của một số thể chế xã hội như gia đình, Nhà thờ (theo nghĩa của phương Tây) hoặc các tôn giáo khác, Nhà trường và Nhà nước, đã nhúng tay vào việc này. Về mặt gia đình, đó là nơi làm con người sớm có những trải nghiệm về khu biệt giới thông qua ngôn ngữ, được bảo toàn và hợp pháp hóa qua nhiều thế hệ. Ở nước ta, có lẽ câu chuyện về khu biệt giới tính trong đời một con người thường bắt đầu từ rất sớm, thậm chí còn bắt đầu từ lúc họ chưa tồn tại trên đời, tức là lúc cha mẹ họ lên kế hoạch sinh đẻ khi mới cưới. “Ta cùng sinh một đứa con trai nhé”, có lẽ đó chẳng phải là một câu nói gì xa lạ. Khi sinh ra, nếu không kể tới những việc phân loại giới tính cần thiết nhằm kiểm soát và theo dõi trẻ sơ sinh liên quan tới y tế, thì có thể kể đến những câu chuyện như mua tã/áo quần/sản phẩm cho trẻ nam hay nữ, những sản phẩm mà ảnh hưởng của nó về mặt vật lý là vô thưởng vô phạt nhưng về mặt làm tiền đề cho những câu chuyện khác về giới trong tương lai lại là sâu đậm. Còn Nhà trường, dù có cố vùng thoát ra khỏi cái bóng của tôn giáo, nó vẫn đang tiếp tục truyền đạt tới con người một lượng lớn các tiền giả định về giới tính thông qua các cấu trúc của cặp nhị nguyên trên-dưới trong nhà trường (ví dụ như những luật lệ khác nhau trong môn thể dục, kiểu nam nhảy dây 1 phút nữ nhảy 30 giây chẳng hạn), các ban ngành, khoa,... chuyên về một phần nào đó được thiết kế riêng cho một giới học (ví dụ cơ khí, kỹ thuật, lao động nặng,... được thống trị nhiều bởi nam; nữ thì làm nhiều ở điều dưỡng, văn chương,...) hay kể cả trong sách vở, đặc biệt là ở nền giáo dục trọng sự “nhai lại” (gọi là truyền thống) như ở Việt Nam (lại là câu chuyện về truyền thống “áo dài”), thì những câu chuyện về khu biệt giới sẽ được bảo tồn lâu dài xuyên suốt. Nhà nước thì, tuy không đóng góp vào mặt kiến tạo nên những thiết chế vô thức của con người, nhưng nó phê chuẩn các chính sách mang tính gia trưởng công, bao gồm phân chia vị trí lao động của phụ nữ hay quyền lợi, chính sách và vai trò của nam - nữ… và cổ vũ cho những gì mà họ đã phê chuẩn. Nói tới đây cũng cần lưu ý rằng các vai trò và chính sách dành cho nữ giới trong công sở hay các ngành nghề khác cũng góp phần vào việc hình thành nên lằn ranh-giới.
Xuyên suốt bài viết này, có một câu chuyện mà tôi nghĩ là cần phải nhắc lại: đó là tầm quan trọng của sự diễn giải. Không thể phủ nhận rằng có diễn giải vẫn đúng, và thật sự là diễn giải khách quan. Tuy nhiên, những diễn giải thứ cấp từ nó mới là vấn đề. Có hai câu chuyện sẽ diễn ra với sự diễn giải này. Thứ nhất, khi phe thống trị ý thức được vị trí của họ trong mối quan hệ quyền lực, diễn giải sẽ là thứ vũ khí huỷ diệt mà họ có thể sử dụng để đàn áp phe bị trị. Mối quan hệ này sẽ cứ thế tăng tiến theo cấp số nhân và phân định sâu sắc lằn ranh giữa họ. Thứ hai sẽ là những diễn giải sẽ cứ càng ngày càng xa rời khỏi nguồn gốc của nó (tôi sẽ không nói là tôi liên tưởng tới mấy hạt đậu của Mendel lúc viết cái này đâu). Nhưng dù là thế nào, quyền lực cũng sẽ liên tục được củng cố dựa trên điều đó.
Cũng phải nói rằng đôi khi có những sự “bất đối xứng” trong việc phân chia này. Tuy nhiên, có thể giải thích rằng khi người ta được gán ghép lên những “tính từ” chung chung (chẳng hạn như nam - quân tử và nữ - tiểu nhân) thì người ta đôi khi sẽ góp nhặt một ít từ kho tri thức của họ để xây dựng nên một tiêu chuẩn mới, kiểu như góp nhặt các đặc điểm “mưu mẹo” và “xảo quyệt” để xây dựng nên hình tượng nữ xảo quyệt chẳng hạn, một hình tượng mà khó có thể tìm thấy một phiên bản đối lập của nam giới. Có một điều khá hiển nhiên là trên thực tế sự phân giới thế này đôi khi THẬT SỰ đến từ bản chất hay tự nhiên của họ (ví dụ như chính sách nghỉ đẻ/…) và mang có vẻ trung tính hơn là thiên vị một giới nào. Bởi vậy, tuy rằng Bourdieu đã làm khá tốt trong việc phân tích những quá trình nhị nguyên hóa mang tính thiên vị, ông lại chưa bàn về những vấn đề như trên, và có lẽ đó là điểm hạn chế duy nhất tôi tìm thấy ở cuốn sách cho tới thời điểm này. Nhưng tóm lại thì lý thuyết của ông vẫn có thể được sử dụng để áp dụng phê phán rộng rãi nhiều vấn đề khác (thật ra trong quá trình Bourdieu phân tích sự phân giới này, ông đã sử dụng phương pháp luận của mình ở các lĩnh vực khác để áp dụng sang) chứ không riêng gì vấn đề về giới tính…

(ảnh minh hoạ: bảng thống kê một số các cặp nhị nguyên được rút ra bởi người Kabylie, theo Pierre Bourdieu)
3. Thực tiễn
Qua việc phân tích ở các phần trước, người ta có thể tìm thấy không ít những hiện tượng xã hội đã vận hành theo đúng những quy luật đã được đề ra. Nhưng hiển nhiên, sẽ có những thứ, tuy tưởng rằng là bình thường, nhưng đó lại là hệ quả của việc bị bạo lực tượng trưng một thời gian lâu dài của cộng đồng/xã hội. Ở phần này, ta cùng nhìn vào những hiện tượng đang mang trong nó tư thái của sự khu biệt, bao gồm thực trạng chung và 2 hướng riêng của từng giới.
Nói chung, qua quá trình kiến tạo lâu dài, nam giới đã được đưa vào vị trí trung tâm, nơi mà nam thì được nhìn nhận như là nam, còn nữ là không-nam. Bởi vậy, nó không chỉ làm việc phân hóa giới tính trở nên sâu sắc, mà nó còn góp phần đẩy phụ nữ thành ngoại biên, và tô đậm sự trung tâm của nam giới. Điều này góp phần làm nên 2 ý nghĩa ám lên xã hội: thứ nhất, điểm nhìn của nam giới sẽ là trung tâm, mọi thứ tư tưởng, góc nhìn, ứng xử, chính sách,... được sinh ra trên đời, chừng nào còn đang tồn tại trong xã hội bị phân hoá này, vẫn sẽ được nhìn nhận dựa trên những hệ quy chiếu lấy những thứ liên quan tới nam giới làm gốc; thứ hai, việc đó sẽ bao hàm cả sự định nghĩa nữ giới như là một sự đối lập với nam giới, và càng ngày sự đối lập này, vì lẽ ấy, sẽ càng trở nên sâu sắc, và rộng hơn là nếu những sự đối lập ấy được xác lập có những “độ lệch” thì sẽ tìm được chỗ dựa của sự nhị nguyên giúp điều chỉnh về chứng cứ “khách quan” sao cho phù hợp với luận điểm để “tái sản xuất” tiếp những luận điểm ấy. Thành ra, các diễn ngôn như kiểu “xã hội luôn cạnh tranh với nhau”, ngoài việc nó được kiến tạo nên từ các xu hướng kinh tế-xã hội mà nó bắt nguồn từ (ví dụ như đạo đức cạnh tranh trong lao động, etc), thì còn một phần là do sự kiến tạo nên của các ý hướng nam-giới đang vất vưởng quanh nhân loại. Các công việc liên quan tới tranh đấu, theo đó, và cũng chịu ảnh hưởng của những sự cường điệu của việc “khẳng định khí lực (sinh lực) nam nhi” (nói nôm na là yếu/khoẻ sinh lý), lần lượt ra đời theo ý muốn của những ý hướng nam giới và góp phần vào việc tạo ra một dạng tù túng: “số mệnh”/“thiên chức”. Ở Việt Nam ta hiện tại thì dấu hiệu sớm nhất của điều này, và cũng là dễ thấy nhất do là một câu chuyện mang tính bình dân, thường có thể quan sát được ở các bàn nhậu, nơi các ông bác thường nói với các cháu trai đại loại kiểu “ăn nhiều gái mới theo”... Nói thêm về những tự sự bắt nguồn từ “khí lực nam nhi”, mà nguồn gốc sâu xa hơn nữa là từ bộ phận sinh dục người đàn ông: do diễn giải cho rằng nó như một biểu tượng, một thứ gì có thể cầm nắm được, một công cụ, một thứ máy móc, có lẽ không phải ngẫu nhiên mà các công việc kỹ thuật, số liệu, máy móc và/hoặc các công việc khô khan lại được phân chia cho nam giới. Đó cũng chính là lý giải cho việc nam giới luôn thống trị ở tất cả các mảng xã hội, kể cả các mảng có gắn mác “nữ tính”, là do họ được tự quyết gần như tuyệt đối thế giới “ở bên ngoài” (một đặc điểm khác của bộ phận sinh dục nam).
Ở phía nữ giới, do họ chịu sự thống trị nên không chỉ có những bất lợi được sinh ra trên thế đối lập với thuận lợi của nam giới mà họ là người phải gánh chịu, mà còn phải chịu thêm đa tầng áp bức khác, do đó cũng dẫn tới rất nhiều bất lợi khác được sinh ra và mặc lên người họ như những cái áo quá khổ. Nếu nói về những bất lợi đối lập với những thuận lợi mà đàn ông được hưởng, có lẽ quan trọng nhất phải kể đến hệ quả phái sinh từ việc coi nam giới như trung tâm, khi mà người phụ nữ bị định nghĩa dựa trên cái nhìn của trung tâm ấy (kiểu như mình mặc váy thế này ANH ẤY có thấy đẹp không nhỉ). Vấn đề là “cái nhìn” này không phải chỉ tồn tại trong con mắt của nam giới mà còn bao trùm lên con mắt của toàn xã hội, cho nên việc họ hành xử như thế không phải chỉ là để đối phó với con mắt của nam giới nói riêng mà còn là vì tha-nhân nói chung - những người già, trẻ, nam, nữ mang trên mình cặp mắt của “nam tính”. Chính vì thế, người phụ nữ gần như không làm chủ được cơ thể mình, mà phải là béo-gầy, đen-trắng,... theo một quy chuẩn “phổ quát” nào đó của xã hội cô ta đang sống. Và có lẽ ta sẽ không lạ gì vụ cô gái bị chỉ trích chỉ vì một cái áo hở lưng gần đây, bao gồm cả victim blaming (cô ta mặc thế ra đường, bị chửi là đúng) và hàng loạt các lỗi ngụy biện khác như ngụy biện trượt dài (ai cũng mặc như cô ta, đạo đức xã hội sẽ đi về đâu?)... Tuy nhiên, còn một câu chuyện liên quan, và tôi nghĩ cũng quan trọng không kém, nếu không muốn nói là nên được chú ý hơn - câu chuyện về quyền được phá thai. Bỗng dưng luật pháp Mỹ đã làm cho quyền này bị lung lay dữ dội, mà không phải chỉ mới lần này, khi nó đã diễn ra dài hơi suốt bao nhiêu năm nay. Những người phản đối cho rằng, nếu phá thai sẽ là vi phạm đạo đức và như thế sẽ là giết đi một sinh mạng vô tội. Nhưng thử nghĩ mà xem, nếu đứa trẻ ra đời mà thế giới này chưa hề sẵn sàng cho nó, ví dụ như mẹ nó là một người đã lầm lỡ, hoặc điều kiện tài chính không đủ, hay ví dụ những chính sách bất hợp lý như học phí và y tế mà chính bọn chúng là người đề ra, thì có phải là đứa trẻ ấy sẽ bị thiếu hụt những nhu cầu căn bản và sẽ chết dần chết mòn chăng? Kết thúc nhanh, một lần và mãi mãi, hay dày vò và hành xác một con người chậm rãi, dai dẳng mới là đúng đạo đức và nhân quyền? Tôi e rằng những kẻ đã đề ra những chính sách vớ vẩn ấy cần xem lại quyết định của mình. Tạm gác lại những chuyện ấy, bởi ta còn cả tá thứ cần bàn tới, như là hiệu quả những cử chỉ/lời nói nhỏ, vô thức hàng ngày của con người đang ngấm ngầm góp phần củng cố thêm vào sự khu biệt giới tính sẵn có của xã hội chẳng hạn. Kiểu như, nếu nói về làm nghệ thuật, đầu bếp hay thiết kế như một công việc chuyên nghiệp, phần đông người ta sẽ nói/nghĩ về chúng như một biểu hiện của sự mềm mại và yêu kiều như người đàn bà… Vậy nhưng cái mềm mại ấy, kể cả là võ đoán, có được thể hiện ra một cách chính đáng chăng, hay thực tế thì ngược lại, khi mà nam giới lại là phe thống trị ở những mảng này, như đã phân tích bên trên? Ấy là bởi phụ nữ đã luôn bị đẩy ra khỏi khu vực của các vụ việc công, đẩy vào khu vực gia đình và công việc tái sản xuất các tài sản tượng trưng một cách lâu dài suốt bao nhiêu thế hệ, gần như là mù chữ và luôn phải kín tiếng trong một xã hội nam tính. Vì nó, các công việc tái sản xuất mà người phụ nữ dự phần, mà một địa hạt cụ thể là việc nhà, không phải là giữ những vai trò chính yếu trong xã hội, nên vai trò của người phụ nữ lại càng bị giảm. Với người phụ nữ, họ, do phải làm công việc nội trợ như nghĩa vụ, nên khi giao du với thế giới bên ngoài trong quá trình đang làm nội trợ (ví dụ gọi điện thoại) sẽ bị coi là ba hoa, bao đồng; trong khi nam giới mà di chuyển từ khu vực việc công sang tư sẽ gọi là cứu trợ, xung phong,... Chưa hết, khi họ chấp nhận bị đẩy vào khu vực việc tư, lúc này họ đã bị (có thể nói là đồng thuận với việc) đẩy khỏi nhân dạng của mình và trở thành một phương tiện giúp đàn ông tích luỹ vốn xã hội và vốn tượng trưng dưới nhiều dạng mà dễ thấy nhất là hôn nhân. Đó là thời kỳ mà các thị tộc hay đại gia đình nắm quyền thế xã hội. Còn ngày nay, khi các gia đình hạt nhân đã trở thành một câu chuyện thường nhật, thì vai trò của người phụ nữ trong việc duy trì các quyền lực của người đàn ông trong xã hội là vật biểu thị, tức là người làm đẹp gia đình,... Điều đó lý giải cho việc xã hội coi trọng ngoại hình của người phụ nữ, vì ở phương diện đó, vẻ đẹp của người phụ nữ giúp ích cho việc tích lũy tài sản tượng trưng, khác với cái làm đẹp của đàn ông là để phô bày dấu hiệu về quyền lực xã hội của mình (ví dụ như mặc vest hay đeo huy chương, etc). Nên nếu chỉ giải thích về lý thuyết vật hoá, thì e rằng việc người phụ nữ bị coi là những con búp bê vẫn chưa thể làm rõ một cách tường tận. Việc vật hoá phụ nữ, kết hợp với nhiều công việc khác (như quá trình khẳng định khí lực nam nhi của người đàn ông) dẫn tới nhiều diễn ngôn khác nhau. Đó có thể là khi người phụ nữ biến thành 1 con búp bê sống, với cái trinh tiết được thần thánh hoá, để người đàn ông trao đổi như một món hàng trong nền kinh tế hôn nhân (tôi nghĩ đây có thể coi như là một lý giải cho việc những người hành nghề gái điếm bị coi là nhơ nhuốc, bởi họ đã mất đi giá trị trao đổi là chữ trinh); hoặc là cái để đám đàn ông tôn lên diễn ngôn về sự chinh phục (quá trình tranh đấu, khẳng định khí lực nam nhi); hay thậm chí vì họ là những con búp bê sống nên họ phải “mặc đẹp để người đời ngắm nhìn” (câu chuyện muôn thuở của áo dài VN). Và cuối cùng, do họ bị tước đi khả năng chơi những “trò chơi xã hội”, họ được bù lại, một cách tất yếu, là sự minh mẫn hơn những người đàn ông về cảm xúc hay suy nghĩ xã hội. Cụ thể, khi người ta nhắc tới đàn bà như những “thực thể” của sự tình cảm và những người đàn ông như thực thể của lý trí, thì thật ra đó là đang nhắc tới khả năng “chơi” những vai trò xã hội của họ: “lý trí” vì những người đàn ông có thể “làm những trò người lớn” trong cái lốt của người đàn ông trưởng thành, và vì thế lời của họ trông có vẻ như những lời của vị minh triết hay tiên tri,... nhưng người lại thì lại phải bị cuốn vào những trò tranh giành đặc quyền; còn “tình cảm” của người phụ nữ thì, tuy nghe nhỏ mọn và bình thường, nhưng lại minh mẫn khỏi những trò đặc quyền của người đàn ông. Và cuối cùng, như tôi đã nói ở trên, có tồn tại một số điểm trừ bất cân xứng mà người phụ phải gánh chịu. Tôi cho rằng đó là câu chuyện người phụ nữ phải chịu sự hôn nhân với người có danh dự “cao hơn” vì họ đã trải qua quá trình bị định nghĩa về giới theo kiểu “giảm đi” phẩm hạnh so với người đàn ông. Vì thế, họ chỉ có thể khẳng định mình bằng người đàn ông của họ so với người phụ nữ khác bằng cách sử dụng hôn nhân để trèo lên đỉnh xã hội. Ta suốt ngày nghe những diễn ngôn “lấy chồng giàu” ra rả bên tai. Nhưng địa vị xã hội không phải là những diễn ngôn duy nhất được đem ra thảo luận hàng ngày. Những năm gần đây, những câu chuyện về ngoại hình như kiểu “gái lùn thích hơn”, cùng sự bùng nổ của con mắt thẩm mỹ đề cao “loli”, tôi cho nó cũng là một phái sinh từ đây. Trai thì thích gái lùn, tôi cho rằng vì đó chỉ là một sự hữu hình hoá của ham muốn thống trị; ngược lại, gái lùn thích trai cao, vì họ lại có ham muốn được có một “danh dự” cao hơn, giúp che chở và lấp đầy những gì họ bị khuyết, những “danh dự” mà họ đã bị lấy đi bởi ý hướng nam giới.
Và tất nhiên, không có câu chuyện nào không thể đề ra hướng giải quyết...
4. Giải quyết
Có thể nói rằng việc khu biệt giới tính này vốn đã là một quá trình được vĩnh viễn hoá, tức là đã được làm nên từ một quá trình kiến tạo mang tính lịch sử (nói cách khác là lịch sử hoá), đã trải dài từ nhiều thế hệ và dự đoán là vẫn sẽ tiếp tục trong tương lai, cộng thêm với quá trình mà nó xâm lấn từ từ vào vô thức cộng đồng từ quá trình “bạo lực tượng trưng”, nên cần có một biện pháp tương tự để đối chọi với nó trên các bình diện mà nó được kiến tạo nên, chứ không phải cứ nói xóa bỏ là xoá bỏ được.
Thứ nhất, về mặt lịch sử của nó, nếu nó được tạo nên từ quá trình “lịch sử hoá”, thì cách đảo ngược của ta, hay việc “phi lịch sử hoá” nó, sẽ phải bắt đầu trước hết từ việc ‘dựng lại lịch sử quá trình phi lịch sử hoá mang tính lịch sử’ ấy. Có nghĩa là ta phải tạo dựng lại cho được quá trình mà các yếu tố “khách quan” và “chủ quan” nhằm khu biệt các giới, kể từ lúc mà “đàn ông” và “đàn bà” xuất hiện, và đặc biệt phải được đặt trong ngữ cảnh của mối tương quan về sự thống trị. Nhưng lịch sử ấy là lịch sử về điều gì? Nếu là lịch sử của sự hình thành nên các biểu tượng, của quá trình vĩnh viễn hoá, thì đó là lịch sử phát triển của điều gì đó quá trừu tượng mà việc những con người phàm nhúng tay vào để đảo ngược nó sẽ là quá sức. Đó phải là lịch sử của các cơ chế cấu trúc (bao gồm các cơ chế giúp bảo toàn và củng cố) sự phân chia giới trong mối tương quan phối hợp kế tiếp với nhau trong các giai đoạn lịch sử, thông qua các thể chế và tác nhân để giữ cho nó được vững bền trong vô thức con người. Tức nghĩa là lịch sử về quá trình mà những thể chế xã hội tác động lên những cá nhân, đã bàn ở kỳ 2.
Thứ hai, ta việc tư duy khu biệt giới này không thể được xóa bỏ một cách dễ dàng như lời kêu gọi “hãy nhìn nhận thế giới ngoài sự nhị nguyên” nữa, bởi chúng không phải chỉ được quy định nên bởi hiệu lực của những yếu tố ngôn ngữ, tức là ngôn ngữ không phải cái duy nhất làm nên những habitus giới tính hiện tại, mà nó còn bắt nguồn từ sâu xa hơn là các cấu trúc, các sự vật và các cơ thể. hiệu quả của nó được khắc ghi trong tiềm tàng của mỗi cơ thể thông qua bạo lực tượng trưng, luôn ẩn hiện, tác động tới cách ta hành xử từ một vị trí vô hình, không phải lồ lộ ra ngay trước mắt và có thể nghe được trực tiếp như những ngôn ngữ thường nhật. Đó là những cấu trúc, như đã phân tích và được biểu diễn ở sơ đồ của bài trước, mà đã được vĩnh viễn hoá và sử dụng như những điều quá hiển nhiên trong xã hội, chưa thể bị phá vỡ hoàn toàn giống như những gì mà các nhà tranh đấu vẫn đang làm trên mặt trận thực tiễn…
Tất nhiên, có đấu tranh trên mặt trận vô thức thì cũng phải có đấu tranh trên mặt trận ý thức. Tuy nhiên, thay vì là đấu tranh giành quyền lợi cho một giới cụ thể, ta có thể đấu tranh để giành quyền lợi cho TẤT CẢ các giới. Một vấn đề đáng chú ý của cách đấu tranh này chính là, cần soi xét cho thật tận gốc của những vấn đề mà họ đang đấu tranh, sao cho thật triệt để. Lấy ví dụ như việc dù rằng ta đã cố đem lại cơ hội cho nữ giới được tiếp cận với những môi trường học thuật, nhưng lại không để ý rằng việc đào tạo phụ nữ chỉ đang được mở rộng về số lượng còn chất lượng vẫn nghiêng hơn về nam giới, như đại diện của nữ giới tiêu biểu ở các ngành học còn khá thấp so với nam giới, hoặc các học phần cao cấp, chuyên môn hay mang tính kỹ thuật cao lại được thiết kế thiên vị hơn cho nam giới (ví dụ như khi vào trường bách khoa, tôi bắt gặp khá ít những nữ sinh, dù rằng dân ta vẫn luôn tự hào về quyền bình đẳng học thuật của Việt Nam). Một trong những biểu hiện thực tiễn của nó là, người ta đưa ra cho nữ giới một thế lưỡng nan về việc học lên cao/có sự nghiệp trong sự đối lập với chuyện gia đình, nhưng chỉ đưa ra một lựa chọn duy nhất cho họ là hướng vào khu vực tư của chính mình: gia đình. Vấn đề về đấu tranh như vậy, lưu ý rằng nó đang diễn ra trên nhiều mặt khác của xã hội chứ không riêng gì giáo dục, học hành.
Để nói về một trong những hướng giải quyết nào đó cụ thể thì có thể kể đến “chính trị hóa” những mặt “khuất” mà nữ giới phải dự phần, tức là những khu vực tư như công việc nội trợ hay sinh nở của họ chẳng hạn. Nhưng như vậy không có nghĩa là bỏ qua sự thật là BẤT KỲ một mặt nào của người nữ, đã bị chia cắt bởi habitus-nam-tính, đều cần được quan sát và giải quyết một cách tường tận, chứ không phải là “đóng cửa bảo nhau” một cách rập khuôn máy móc. Như tôi đã đưa ra ở một đoạn nào đó, nếu, ví dụ, không trả lương cho việc nội trợ - một trong những quá trình tái sản xuất cần thiết của xã hội - người ta sẽ xem nhẹ mặt này, bởi lẽ một phần cũng là vì xã hội hiện tại người ta đang xem tư bản chủ nghĩa như một thứ tân tôn giáo còn tiền và lợi nhuận là những vị thần của nó. Tôi nói như thế không có nghĩa là đang kêu gọi làm một trò con bò vớ vẩn nào đó, kiểu như, “ừ giờ tôi thích thì đòi lương đấy, anh làm gì tôi?”, mà làm vậy là để người ta phải hướng sự chú ý của mình vào những vụn vỡ xã hội mà họ đã góp sức tán nhỏ ra. Người phụ nữ, nếu không được hưởng sự “chính trị hoá” ấy thì, một trong những hệ quả như đã phân tích, sẽ là việc họ CHỈ được xem như là những đồ vật (vật hoá) hay phương tiện để tái sản xuất quyền lực của phe thống trị và đem lại lợi nhuận tượng trưng cho các thể chế của xã hội nam giới mà những habitus-nam-giới sẽ luôn nắm thế thượng phong trong đó.
Nói chung, nếu không đấu tranh một cách triệt để, về bất cứ mặt trận nào đi nữa, thì không chỉ họ đang phải hưởng một phần kết quả kém ưu đãi hơn của cuộc đấu tranh họ đã lập quy ước với toàn xã hội, mà còn khiến họ phải chịu sự chia cắt khỏi nam giới nói riêng, và chia cắt lợi ích của họ trong một xã-hội-nam-tính (tức là xã hội bị thống trị bởi nam giới), như ngày nay, nói chung.
Nói chung, khi đọc Bourdieu, có lẽ người ta sẽ thường thấy khó chịu ở hai điểm: thứ nhất là lối viết câu văn dài dòng, không hồi kết của ông (ở bản dịch tiếng Việt, việc đọc thấy một câu được viết lan tràn 18 dòng không phải là hiếm), góp phần làm nên độ phức tạp cho công việc thông hiểu và diễn giải tác phẩm của ông; và thứ là việc ông thường nhắc tới các khái niệm ở các tác phẩm trước đó của ông kiểu “như tôi đã nói ở tác phẩm trước” và cứ thế ngồi viết, làm độc giả phải đọc chú giải muốn rớt con mắt. Vậy nên, khi viết về cuốn “Sự thống trị của nam giới” mà tôi vừa đọc đây, việc làm rõ những khái niệm và các hệ thống lý luận mà ông sử dụng xuyên suốt tác phẩm của mình có lẽ là một công việc cần thiết, hay ít nhất là viết để tôi có thể củng cố lại kiến thức của mình cho chắc chắn hơn. Một số khái niệm và nền tảng lý luận mà Bourdieu sử dụng trong tác phẩm có thể kế đến như habitus/ý hướng, quá trình vĩnh viễn hoá (đi kèm với mô hình lễ nghi - huyền thoại), quan hệ của quyền lực (cụ thể là trong ngữ cảnh về sự thống trị) và “bạo lực tượng trưng”.
Trước hết, nói về habitus (hay nhiều lúc Bourdieu còn gọi là “ý hướng” trong tác phẩm này). Có thể hiểu habitus như một kiểu khuynh hướng tinh thần, cách thức hiện hữu hay tư thái; đó là tổng thể của những khuynh hướng cố hữu và có khả năng chuyển dịch, sản phẩm của quá trình giáo hoá xã hội và có thể được sử dụng để biểu hiện trong xã hội và/hoặc diễn giải xã hội. Một cộng đồng, nói chung, hay có thể là cùng một loại người, có thể phân ra thành nhiều habitus, tuỳ vào tiêu chuẩn mà người ta đang xét tới. Ví dụ, trong cộng đồng học sinh, ta có thể có habitus-trường-chuyên, với những nếp sống, nếp nghĩ được kiến tạo nên không chỉ bởi những bạn học đồng lứa hay giáo viên, mà có thể còn là từ những vị phụ huynh “cấp tiến” muốn con em mình có thật nhanh tấm bằng IELTS chẳng hạn. Hiển nhiên, việc mang trong mình habitus ấy sẽ khiến cho cậu ta có những biểu hiện khác với habitus-trường-thường, ví dụ như sẽ khát những tấm bằng như khát máu, hoặc sẽ có những diễn giải về thế giới khác hơn mà người ta gọi là “nói chuyện có học thức”. Tất nhiên, sống trong cộng đồng như vậy, không có gì đảm bảo rằng một người sẽ là hiện thân của habitus ấy, tức là mang trong mình tất cả mọi đặc điểm của một habitus lý tưởng không sót cái nào, nhưng chắc chắn sẽ mang một phần nào đó của habitus đó. Ví dụ như cùng là học sinh trường chuyên, không phải ai cũng khát bằng cấp, nhưng có thể hắn sẽ khát một thứ gì khác, như tri thức, hay những thú chơi nào đó của một học sinh “trường chuyên”.
Tiếp theo sẽ là một mô hình khá rắc rối mà ông gọi là “vĩnh viễn hoá điều võ đoán”. Quy trình của cuộc vĩnh viễn hoá ấy là thế nào? Như cái cụm mà tôi vừa đưa ra bên trên, “vĩnh viễn hoá điều võ đoán”, thì cái nguồn gốc của cuộc vĩnh viễn hoá ấy là từ điều võ đoán trước. Nói một cách vắn tắt, quy trình này là quy trình đảo ngược mối quan hệ nhân quả: có kết quả trước rồi mới có nguyên nhân. Đầu tiên, người ta sẽ tạo ra một quan niệm nào đó không có cơ sở, và bất khả kiểm chứng, mà theo Bourdieu sẽ gọi là “điều võ đoán” - những mệnh đề mang tính chủ quan - và đi tìm những ví dụ hay lý luận để làm tôn lên luận điểm của mình, nghe sao cho thật logic, để nó có thể chập chững mang tính khoa học và hợp lý. Ở đây, xét trên bình diện xã hội thì ta sẽ có quá trình gọi là “kiến tạo xã hội”, nơi mà chọn lọc lý luận sẽ đóng một vai trò chủ chốt. Tức là sao, những lý luận có tính xây dựng và củng cố cho những luận điểm phe thống trị đề ra sẽ được tiếp thu còn các lý luận chống sẽ bị đào thải. Đôi khi những luận điểm võ đoán ấy thậm chí sẽ vô căn cứ vl nên để có thể xây dựng nên, chúng sẽ được điều chỉnh sao cho gần với những điều kiện khách quan nhất (ví dụ lôi chuyện sinh đẻ hoặc thể trạng phụ nữ ra làm nền cho bất bình đẳng). Từ đó, sự hợp lý của lý luận sẽ xuất hiện, và khi nó - tức là luận điểm vô căn cứ, đã trở nên có căn cứ, thì người ta sẽ bắt đầu suy ra một loạt những lý luận liên quan và/hoặc ứng dụng thẳng vào đời sống; những lý luận hay ứng dụng ấy lại quay vòng về củng cố thêm cho luận điểm võ đoán được đặt ra ban đầu. Một trong những thực tiễn của quá trình vĩnh viễn hoá này là mô hình “lễ nghi - huyền thoại”. Nghi lễ, có thể nói là một phiên bản tái hiện nhân tạo của những huyền thoại, tức là những tự sự mang tính biểu tượng đã ăn vào tiềm thức của con người trong cộng đồng ấy. Ví dụ như nghi lễ “cắt tóc lần đầu” của người Kabylie đối với đứa con trai, theo Bourdieu, là quá trình tái hiện một tự sự về sự dứt bỏ khỏi người mẹ, thể hiện sự độc lập và cương quyết của đứa con trai. Mô hình này không chỉ đóng vai trò như một sự “vĩnh viễn hoá”, tức là tự nó củng cố cho chính nó và kiến tạo thêm về mặt nó đang xây dựng (ví dụ như nghi lễ của người Kabylie củng cố cho quá trình khu biệt giới ở cộng đồng họ), mà còn là tiền đề cho một công việc khác diễn ra trong xã hội: “bạo lực tượng trưng”.
Nói về bạo lực tượng trưng, có thể hiểu như này. Nó khác với kiểu bạo lực vật lý, tức là nếu một thằng đập, thằng còn lại sẽ phản kháng, và có thể được quan sát bằng mắt thường. Bạo lực tượng trưng là sự đè nén phi vật lý, không chỉ nằm ở sự áp đặt của phe thống trị mà còn là nằm ở sự đồng lõa trong vô thức của phía bị trị, vận hành bằng cách du nhập từ từ, nhẹ nhàng vào tiềm thức người ta sau một quá trình “lịch sử hoá” (ví dụ như quá trình “vĩnh viễn hoá” đã nói ở trên). Lâu dần, nó sẽ trở thành một điều gì đó quá hiển nhiên, ai cũng chấp thuận và làm theo chứ chẳng còn mất công đi kiểm chứng nữa. Không thể không nói rằng trên thực tế, vẫn có nhiều bộ phận người, trong cộng đồng đang bị “bạo lực tượng trưng” bao trùm lên, cố giằng mình ra khỏi nó. Tuy nhiên, thứ nhất, việc vẫn chấp thuận những điều kiện khác trong “bạo lực tượng trưng” làm họ không thể tách rời ra một cách hoàn toàn, sớm muộn cũng bị các điều khoản khác kéo ngược trở lại; và thứ hai, ta đã bàn rằng đây là việc làm của vô thức, nên một hành động “giằng” ra một cách có ý thức sẽ không thể triệt để giải quyết được vấn đề, mà phải là đi truy xét tận nguồn của những vô thức ấy và đảo ngược lại quá trình nó du nhập vào các habitus. Ngoài ra, một cái hại mà “bạo lực tượng trưng” mang lại, trong ngữ cảnh về giới, có lẽ không chỉ phe bị trị mà phe thống trị cũng là nạn nhân của chính họ, tự giam mình trong cái khung của những điều khoản do họ tạo ra và chấp thuận.
2. Nguồn gốc của sự phân biệt
…Vậy từ đâu mà có sự phân biệt giữa các giới?
Tôi nghĩ phần lớn thì là do sự ngầm thống nhất giữa cả 2 ý hướng là thống trị và bị trị, tức là một phần của bạo lực tượng trưng. Nhưng vì sao nó lại được thống nhất? Tôi nghĩ là vì nó đã trải qua một quá trình kiến tạo lâu dài và được làm cho trở nên hợp lý bởi nhiều cách thức khác nhau.
Trước hết thì nó xuất phát từ những cái mang tính khách quan, tức là cái mà nhìn vào đã thấy và không việc gì phải bàn cãi, trước. Và nếu phải kể ra đặc điểm nào đó mà nam và nữ khác nhau, theo một cách khách quan, thì tôi nghĩ đó sẽ là bộ phận sinh dục. Nói về bộ phận sinh dục của người đàn ông, so với cái tương tự ở người phụ nữ, thì ta sẽ có ngay rất nhiều các cặp tính chất nhị nguyên có thể quan sát thấy. Ví dụ, nếu nói về bộ phận sinh dục nam, họ sẽ có thể diễn tả rằng đó là cái ở ngoài, so với bộ phận sinh dục nữ là cái ở trong. Tương tự, ta sẽ có trường hợp của khô ráo - ẩm ướt, cao - thấp, thẳng - cong, dựng đứng - nằm im,... Tất nhiên, không phải chỉ có bộ phận sinh dục là cái khách quan duy nhất, bởi nhiều lúc những hành vi mang tính truyền thừa lâu đời (ví dụ như cách thức quan hệ tình dục,...) cũng góp phần vào việc kiến tạo nên những chuyện vậy. Ấy là cái mà ta có thể gọi là các “hình học giới tính”. Thì ở đây, do chúng là cái có thể được quan sát, và vì mỗi người quan sát có thể có một góc nhìn - diễn giải khác nhau, nên chỉ với bấy nhiêu đặc điểm khác nhau họ có thể tạo ra thêm rất nhiều các lý luận khác. Ví dụ như cặp “trong - ngoài” chẳng hạn, thì họ có thể suy ra thêm một tầng như là “trong nhà - ngoài xã hội”. Với những cặp nhị nguyên thứ cấp được xây dựng nên như vậy, những hệ thống định kiến được hữu hình hoá và trở nên có hệ thống. Nói về sự phân công lao động chẳng hạn. Việc mà người phụ nữ thường xuyên phải làm việc ở khu vực riêng tư (cụ thể là nhà bếp hay phòng ngủ - so với phòng khách của người đàn ông; hoặc trong nhà so với ngoài xã hội; mà có thể hiểu như triết lý sống “đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm” của người xưa) có thể hiểu đó như là hệ quả của quá trình suy ra từ mối quan hệ giữa trong - ngoài; người đàn ông có quyền tự do phát biểu ý kiến của mình về công việc (hay kể cả bất cứ lãnh vực nào khác trong xã hội) RA NGOÀI với sự NGẨNG đầu ngạo nghễ, ngược lại so với đàn bà chỉ có thể im ỉm giấu tâm tư BÊN TRONG với vẻ thẹn thùng CÚI MẶT. Nam giới có thể được tham gia vào các ngành kỹ thuật đông đảo, vì chúng thường phải sử dụng tới những “khí cụ” (tool/machine), tương tự như liên tưởng về bộ phận sinh dục của nam giới. Tương tự, về mặt quyền lực thì người phụ nữ vẫn thường phải cư xử như những ý hướng NẰM DƯỚI, so với sự thống trị của nam giới. Có hai lý do mà những suy diễn này được truyền giữ lâu dài, nếu không muốn nói là vẫn đang trôi nổi đâu đó ngoài kia hiện nay. Thứ nhất, vì nó được suy ra từ những cái khách quan nên trông chúng như thể là sự khách quan hoàn toàn, mặc dù như vừa nói phía trên thì những diễn ngôn ấy chỉ là “diễn giải”, mà đã nói như vậy đồng nghĩa nó tất sẽ chứa yếu tố chủ quan trộn lẫn với khách quan trong đó. Thứ hai, chúng còn sống là vì, không chỉ chúng được tạo ra, mà còn liên tục được củng cố và tái sản xuất về ý nghĩa cho chính nó, bởi xã hội, hay nói cách khác là dựa vào ảnh hưởng của quá trình kiến tạo xã hội.
Ta nhớ lại mô hình lễ nghi - huyền thoại đã bàn ở kỳ trước. Đó có thể hiểu như là một dạng “kiến tạo xã hội” vừa được phân tích ở trên. Và như đã phân tích ở kỳ trước, thì quá trình “kiến tạo xã hội” vận hành theo cách tuần hoàn, tức là nó liên tục tự củng cố chính nó và các thành tố cấu tạo nên nó. Sự kiến tạo nên khu biệt giới không nằm ngoài quy luật ấy, và phần lớn đã được đóng góp bởi mô hình “nghi lễ - huyền thoại” - một sự thiêng hóa, mà phần đông con người ta khi thấy điều gì linh thiêng sẽ nhắm mắt làm theo, hiếm khi tra vấn về độ hợp lý của nó. Như ở Việt Nam chẳng hạn, ta thường nghe tới những sự thực hành kiểu như “nam tả nữ hữu” hay “nam thực như hổ, nữ thực như miêu”,... Khi mà người ta thực hành đủ lâu những chuyện đó, họ sẽ dần dần coi chúng như là điều hiển nhiên. Vấn đề ở đây không phải là sự hiển nhiên ấy là độc lập khỏi cỗ máy khu biệt giới tính khổng lồ, bởi nó góp phần đục ra một lỗ hổng trong tâm thức của ta, cái đi trước mở đường cho cái đi sau và cứ thế những thực hành kiểu vậy sẽ chồng chất lên nhau. Đó là tiền đề để “bạo lực tượng trưng”, khái niệm mà kỳ trước tôi cũng đã có giới thiệu, được hình thành, khi mà người ta, kể cả là phe thống trị hay bị trị, đều cùng vô thức đồng thuận với sự bạo lực đang áp đặt lên chính họ.
Một trong những đóng góp quan trọng vào quá trình khu biệt giới, là sự tác động của một số thể chế xã hội như gia đình, Nhà thờ (theo nghĩa của phương Tây) hoặc các tôn giáo khác, Nhà trường và Nhà nước, đã nhúng tay vào việc này. Về mặt gia đình, đó là nơi làm con người sớm có những trải nghiệm về khu biệt giới thông qua ngôn ngữ, được bảo toàn và hợp pháp hóa qua nhiều thế hệ. Ở nước ta, có lẽ câu chuyện về khu biệt giới tính trong đời một con người thường bắt đầu từ rất sớm, thậm chí còn bắt đầu từ lúc họ chưa tồn tại trên đời, tức là lúc cha mẹ họ lên kế hoạch sinh đẻ khi mới cưới. “Ta cùng sinh một đứa con trai nhé”, có lẽ đó chẳng phải là một câu nói gì xa lạ. Khi sinh ra, nếu không kể tới những việc phân loại giới tính cần thiết nhằm kiểm soát và theo dõi trẻ sơ sinh liên quan tới y tế, thì có thể kể đến những câu chuyện như mua tã/áo quần/sản phẩm cho trẻ nam hay nữ, những sản phẩm mà ảnh hưởng của nó về mặt vật lý là vô thưởng vô phạt nhưng về mặt làm tiền đề cho những câu chuyện khác về giới trong tương lai lại là sâu đậm. Còn Nhà trường, dù có cố vùng thoát ra khỏi cái bóng của tôn giáo, nó vẫn đang tiếp tục truyền đạt tới con người một lượng lớn các tiền giả định về giới tính thông qua các cấu trúc của cặp nhị nguyên trên-dưới trong nhà trường (ví dụ như những luật lệ khác nhau trong môn thể dục, kiểu nam nhảy dây 1 phút nữ nhảy 30 giây chẳng hạn), các ban ngành, khoa,... chuyên về một phần nào đó được thiết kế riêng cho một giới học (ví dụ cơ khí, kỹ thuật, lao động nặng,... được thống trị nhiều bởi nam; nữ thì làm nhiều ở điều dưỡng, văn chương,...) hay kể cả trong sách vở, đặc biệt là ở nền giáo dục trọng sự “nhai lại” (gọi là truyền thống) như ở Việt Nam (lại là câu chuyện về truyền thống “áo dài”), thì những câu chuyện về khu biệt giới sẽ được bảo tồn lâu dài xuyên suốt. Nhà nước thì, tuy không đóng góp vào mặt kiến tạo nên những thiết chế vô thức của con người, nhưng nó phê chuẩn các chính sách mang tính gia trưởng công, bao gồm phân chia vị trí lao động của phụ nữ hay quyền lợi, chính sách và vai trò của nam - nữ… và cổ vũ cho những gì mà họ đã phê chuẩn. Nói tới đây cũng cần lưu ý rằng các vai trò và chính sách dành cho nữ giới trong công sở hay các ngành nghề khác cũng góp phần vào việc hình thành nên lằn ranh-giới.
Xuyên suốt bài viết này, có một câu chuyện mà tôi nghĩ là cần phải nhắc lại: đó là tầm quan trọng của sự diễn giải. Không thể phủ nhận rằng có diễn giải vẫn đúng, và thật sự là diễn giải khách quan. Tuy nhiên, những diễn giải thứ cấp từ nó mới là vấn đề. Có hai câu chuyện sẽ diễn ra với sự diễn giải này. Thứ nhất, khi phe thống trị ý thức được vị trí của họ trong mối quan hệ quyền lực, diễn giải sẽ là thứ vũ khí huỷ diệt mà họ có thể sử dụng để đàn áp phe bị trị. Mối quan hệ này sẽ cứ thế tăng tiến theo cấp số nhân và phân định sâu sắc lằn ranh giữa họ. Thứ hai sẽ là những diễn giải sẽ cứ càng ngày càng xa rời khỏi nguồn gốc của nó (tôi sẽ không nói là tôi liên tưởng tới mấy hạt đậu của Mendel lúc viết cái này đâu). Nhưng dù là thế nào, quyền lực cũng sẽ liên tục được củng cố dựa trên điều đó.
Cũng phải nói rằng đôi khi có những sự “bất đối xứng” trong việc phân chia này. Tuy nhiên, có thể giải thích rằng khi người ta được gán ghép lên những “tính từ” chung chung (chẳng hạn như nam - quân tử và nữ - tiểu nhân) thì người ta đôi khi sẽ góp nhặt một ít từ kho tri thức của họ để xây dựng nên một tiêu chuẩn mới, kiểu như góp nhặt các đặc điểm “mưu mẹo” và “xảo quyệt” để xây dựng nên hình tượng nữ xảo quyệt chẳng hạn, một hình tượng mà khó có thể tìm thấy một phiên bản đối lập của nam giới. Có một điều khá hiển nhiên là trên thực tế sự phân giới thế này đôi khi THẬT SỰ đến từ bản chất hay tự nhiên của họ (ví dụ như chính sách nghỉ đẻ/…) và mang có vẻ trung tính hơn là thiên vị một giới nào. Bởi vậy, tuy rằng Bourdieu đã làm khá tốt trong việc phân tích những quá trình nhị nguyên hóa mang tính thiên vị, ông lại chưa bàn về những vấn đề như trên, và có lẽ đó là điểm hạn chế duy nhất tôi tìm thấy ở cuốn sách cho tới thời điểm này. Nhưng tóm lại thì lý thuyết của ông vẫn có thể được sử dụng để áp dụng phê phán rộng rãi nhiều vấn đề khác (thật ra trong quá trình Bourdieu phân tích sự phân giới này, ông đã sử dụng phương pháp luận của mình ở các lĩnh vực khác để áp dụng sang) chứ không riêng gì vấn đề về giới tính…
(ảnh minh hoạ: bảng thống kê một số các cặp nhị nguyên được rút ra bởi người Kabylie, theo Pierre Bourdieu)
3. Thực tiễn
Qua việc phân tích ở các phần trước, người ta có thể tìm thấy không ít những hiện tượng xã hội đã vận hành theo đúng những quy luật đã được đề ra. Nhưng hiển nhiên, sẽ có những thứ, tuy tưởng rằng là bình thường, nhưng đó lại là hệ quả của việc bị bạo lực tượng trưng một thời gian lâu dài của cộng đồng/xã hội. Ở phần này, ta cùng nhìn vào những hiện tượng đang mang trong nó tư thái của sự khu biệt, bao gồm thực trạng chung và 2 hướng riêng của từng giới.
Nói chung, qua quá trình kiến tạo lâu dài, nam giới đã được đưa vào vị trí trung tâm, nơi mà nam thì được nhìn nhận như là nam, còn nữ là không-nam. Bởi vậy, nó không chỉ làm việc phân hóa giới tính trở nên sâu sắc, mà nó còn góp phần đẩy phụ nữ thành ngoại biên, và tô đậm sự trung tâm của nam giới. Điều này góp phần làm nên 2 ý nghĩa ám lên xã hội: thứ nhất, điểm nhìn của nam giới sẽ là trung tâm, mọi thứ tư tưởng, góc nhìn, ứng xử, chính sách,... được sinh ra trên đời, chừng nào còn đang tồn tại trong xã hội bị phân hoá này, vẫn sẽ được nhìn nhận dựa trên những hệ quy chiếu lấy những thứ liên quan tới nam giới làm gốc; thứ hai, việc đó sẽ bao hàm cả sự định nghĩa nữ giới như là một sự đối lập với nam giới, và càng ngày sự đối lập này, vì lẽ ấy, sẽ càng trở nên sâu sắc, và rộng hơn là nếu những sự đối lập ấy được xác lập có những “độ lệch” thì sẽ tìm được chỗ dựa của sự nhị nguyên giúp điều chỉnh về chứng cứ “khách quan” sao cho phù hợp với luận điểm để “tái sản xuất” tiếp những luận điểm ấy. Thành ra, các diễn ngôn như kiểu “xã hội luôn cạnh tranh với nhau”, ngoài việc nó được kiến tạo nên từ các xu hướng kinh tế-xã hội mà nó bắt nguồn từ (ví dụ như đạo đức cạnh tranh trong lao động, etc), thì còn một phần là do sự kiến tạo nên của các ý hướng nam-giới đang vất vưởng quanh nhân loại. Các công việc liên quan tới tranh đấu, theo đó, và cũng chịu ảnh hưởng của những sự cường điệu của việc “khẳng định khí lực (sinh lực) nam nhi” (nói nôm na là yếu/khoẻ sinh lý), lần lượt ra đời theo ý muốn của những ý hướng nam giới và góp phần vào việc tạo ra một dạng tù túng: “số mệnh”/“thiên chức”. Ở Việt Nam ta hiện tại thì dấu hiệu sớm nhất của điều này, và cũng là dễ thấy nhất do là một câu chuyện mang tính bình dân, thường có thể quan sát được ở các bàn nhậu, nơi các ông bác thường nói với các cháu trai đại loại kiểu “ăn nhiều gái mới theo”... Nói thêm về những tự sự bắt nguồn từ “khí lực nam nhi”, mà nguồn gốc sâu xa hơn nữa là từ bộ phận sinh dục người đàn ông: do diễn giải cho rằng nó như một biểu tượng, một thứ gì có thể cầm nắm được, một công cụ, một thứ máy móc, có lẽ không phải ngẫu nhiên mà các công việc kỹ thuật, số liệu, máy móc và/hoặc các công việc khô khan lại được phân chia cho nam giới. Đó cũng chính là lý giải cho việc nam giới luôn thống trị ở tất cả các mảng xã hội, kể cả các mảng có gắn mác “nữ tính”, là do họ được tự quyết gần như tuyệt đối thế giới “ở bên ngoài” (một đặc điểm khác của bộ phận sinh dục nam).
Ở phía nữ giới, do họ chịu sự thống trị nên không chỉ có những bất lợi được sinh ra trên thế đối lập với thuận lợi của nam giới mà họ là người phải gánh chịu, mà còn phải chịu thêm đa tầng áp bức khác, do đó cũng dẫn tới rất nhiều bất lợi khác được sinh ra và mặc lên người họ như những cái áo quá khổ. Nếu nói về những bất lợi đối lập với những thuận lợi mà đàn ông được hưởng, có lẽ quan trọng nhất phải kể đến hệ quả phái sinh từ việc coi nam giới như trung tâm, khi mà người phụ nữ bị định nghĩa dựa trên cái nhìn của trung tâm ấy (kiểu như mình mặc váy thế này ANH ẤY có thấy đẹp không nhỉ). Vấn đề là “cái nhìn” này không phải chỉ tồn tại trong con mắt của nam giới mà còn bao trùm lên con mắt của toàn xã hội, cho nên việc họ hành xử như thế không phải chỉ là để đối phó với con mắt của nam giới nói riêng mà còn là vì tha-nhân nói chung - những người già, trẻ, nam, nữ mang trên mình cặp mắt của “nam tính”. Chính vì thế, người phụ nữ gần như không làm chủ được cơ thể mình, mà phải là béo-gầy, đen-trắng,... theo một quy chuẩn “phổ quát” nào đó của xã hội cô ta đang sống. Và có lẽ ta sẽ không lạ gì vụ cô gái bị chỉ trích chỉ vì một cái áo hở lưng gần đây, bao gồm cả victim blaming (cô ta mặc thế ra đường, bị chửi là đúng) và hàng loạt các lỗi ngụy biện khác như ngụy biện trượt dài (ai cũng mặc như cô ta, đạo đức xã hội sẽ đi về đâu?)... Tuy nhiên, còn một câu chuyện liên quan, và tôi nghĩ cũng quan trọng không kém, nếu không muốn nói là nên được chú ý hơn - câu chuyện về quyền được phá thai. Bỗng dưng luật pháp Mỹ đã làm cho quyền này bị lung lay dữ dội, mà không phải chỉ mới lần này, khi nó đã diễn ra dài hơi suốt bao nhiêu năm nay. Những người phản đối cho rằng, nếu phá thai sẽ là vi phạm đạo đức và như thế sẽ là giết đi một sinh mạng vô tội. Nhưng thử nghĩ mà xem, nếu đứa trẻ ra đời mà thế giới này chưa hề sẵn sàng cho nó, ví dụ như mẹ nó là một người đã lầm lỡ, hoặc điều kiện tài chính không đủ, hay ví dụ những chính sách bất hợp lý như học phí và y tế mà chính bọn chúng là người đề ra, thì có phải là đứa trẻ ấy sẽ bị thiếu hụt những nhu cầu căn bản và sẽ chết dần chết mòn chăng? Kết thúc nhanh, một lần và mãi mãi, hay dày vò và hành xác một con người chậm rãi, dai dẳng mới là đúng đạo đức và nhân quyền? Tôi e rằng những kẻ đã đề ra những chính sách vớ vẩn ấy cần xem lại quyết định của mình. Tạm gác lại những chuyện ấy, bởi ta còn cả tá thứ cần bàn tới, như là hiệu quả những cử chỉ/lời nói nhỏ, vô thức hàng ngày của con người đang ngấm ngầm góp phần củng cố thêm vào sự khu biệt giới tính sẵn có của xã hội chẳng hạn. Kiểu như, nếu nói về làm nghệ thuật, đầu bếp hay thiết kế như một công việc chuyên nghiệp, phần đông người ta sẽ nói/nghĩ về chúng như một biểu hiện của sự mềm mại và yêu kiều như người đàn bà… Vậy nhưng cái mềm mại ấy, kể cả là võ đoán, có được thể hiện ra một cách chính đáng chăng, hay thực tế thì ngược lại, khi mà nam giới lại là phe thống trị ở những mảng này, như đã phân tích bên trên? Ấy là bởi phụ nữ đã luôn bị đẩy ra khỏi khu vực của các vụ việc công, đẩy vào khu vực gia đình và công việc tái sản xuất các tài sản tượng trưng một cách lâu dài suốt bao nhiêu thế hệ, gần như là mù chữ và luôn phải kín tiếng trong một xã hội nam tính. Vì nó, các công việc tái sản xuất mà người phụ nữ dự phần, mà một địa hạt cụ thể là việc nhà, không phải là giữ những vai trò chính yếu trong xã hội, nên vai trò của người phụ nữ lại càng bị giảm. Với người phụ nữ, họ, do phải làm công việc nội trợ như nghĩa vụ, nên khi giao du với thế giới bên ngoài trong quá trình đang làm nội trợ (ví dụ gọi điện thoại) sẽ bị coi là ba hoa, bao đồng; trong khi nam giới mà di chuyển từ khu vực việc công sang tư sẽ gọi là cứu trợ, xung phong,... Chưa hết, khi họ chấp nhận bị đẩy vào khu vực việc tư, lúc này họ đã bị (có thể nói là đồng thuận với việc) đẩy khỏi nhân dạng của mình và trở thành một phương tiện giúp đàn ông tích luỹ vốn xã hội và vốn tượng trưng dưới nhiều dạng mà dễ thấy nhất là hôn nhân. Đó là thời kỳ mà các thị tộc hay đại gia đình nắm quyền thế xã hội. Còn ngày nay, khi các gia đình hạt nhân đã trở thành một câu chuyện thường nhật, thì vai trò của người phụ nữ trong việc duy trì các quyền lực của người đàn ông trong xã hội là vật biểu thị, tức là người làm đẹp gia đình,... Điều đó lý giải cho việc xã hội coi trọng ngoại hình của người phụ nữ, vì ở phương diện đó, vẻ đẹp của người phụ nữ giúp ích cho việc tích lũy tài sản tượng trưng, khác với cái làm đẹp của đàn ông là để phô bày dấu hiệu về quyền lực xã hội của mình (ví dụ như mặc vest hay đeo huy chương, etc). Nên nếu chỉ giải thích về lý thuyết vật hoá, thì e rằng việc người phụ nữ bị coi là những con búp bê vẫn chưa thể làm rõ một cách tường tận. Việc vật hoá phụ nữ, kết hợp với nhiều công việc khác (như quá trình khẳng định khí lực nam nhi của người đàn ông) dẫn tới nhiều diễn ngôn khác nhau. Đó có thể là khi người phụ nữ biến thành 1 con búp bê sống, với cái trinh tiết được thần thánh hoá, để người đàn ông trao đổi như một món hàng trong nền kinh tế hôn nhân (tôi nghĩ đây có thể coi như là một lý giải cho việc những người hành nghề gái điếm bị coi là nhơ nhuốc, bởi họ đã mất đi giá trị trao đổi là chữ trinh); hoặc là cái để đám đàn ông tôn lên diễn ngôn về sự chinh phục (quá trình tranh đấu, khẳng định khí lực nam nhi); hay thậm chí vì họ là những con búp bê sống nên họ phải “mặc đẹp để người đời ngắm nhìn” (câu chuyện muôn thuở của áo dài VN). Và cuối cùng, do họ bị tước đi khả năng chơi những “trò chơi xã hội”, họ được bù lại, một cách tất yếu, là sự minh mẫn hơn những người đàn ông về cảm xúc hay suy nghĩ xã hội. Cụ thể, khi người ta nhắc tới đàn bà như những “thực thể” của sự tình cảm và những người đàn ông như thực thể của lý trí, thì thật ra đó là đang nhắc tới khả năng “chơi” những vai trò xã hội của họ: “lý trí” vì những người đàn ông có thể “làm những trò người lớn” trong cái lốt của người đàn ông trưởng thành, và vì thế lời của họ trông có vẻ như những lời của vị minh triết hay tiên tri,... nhưng người lại thì lại phải bị cuốn vào những trò tranh giành đặc quyền; còn “tình cảm” của người phụ nữ thì, tuy nghe nhỏ mọn và bình thường, nhưng lại minh mẫn khỏi những trò đặc quyền của người đàn ông. Và cuối cùng, như tôi đã nói ở trên, có tồn tại một số điểm trừ bất cân xứng mà người phụ phải gánh chịu. Tôi cho rằng đó là câu chuyện người phụ nữ phải chịu sự hôn nhân với người có danh dự “cao hơn” vì họ đã trải qua quá trình bị định nghĩa về giới theo kiểu “giảm đi” phẩm hạnh so với người đàn ông. Vì thế, họ chỉ có thể khẳng định mình bằng người đàn ông của họ so với người phụ nữ khác bằng cách sử dụng hôn nhân để trèo lên đỉnh xã hội. Ta suốt ngày nghe những diễn ngôn “lấy chồng giàu” ra rả bên tai. Nhưng địa vị xã hội không phải là những diễn ngôn duy nhất được đem ra thảo luận hàng ngày. Những năm gần đây, những câu chuyện về ngoại hình như kiểu “gái lùn thích hơn”, cùng sự bùng nổ của con mắt thẩm mỹ đề cao “loli”, tôi cho nó cũng là một phái sinh từ đây. Trai thì thích gái lùn, tôi cho rằng vì đó chỉ là một sự hữu hình hoá của ham muốn thống trị; ngược lại, gái lùn thích trai cao, vì họ lại có ham muốn được có một “danh dự” cao hơn, giúp che chở và lấp đầy những gì họ bị khuyết, những “danh dự” mà họ đã bị lấy đi bởi ý hướng nam giới.
Và tất nhiên, không có câu chuyện nào không thể đề ra hướng giải quyết...
4. Giải quyết
Có thể nói rằng việc khu biệt giới tính này vốn đã là một quá trình được vĩnh viễn hoá, tức là đã được làm nên từ một quá trình kiến tạo mang tính lịch sử (nói cách khác là lịch sử hoá), đã trải dài từ nhiều thế hệ và dự đoán là vẫn sẽ tiếp tục trong tương lai, cộng thêm với quá trình mà nó xâm lấn từ từ vào vô thức cộng đồng từ quá trình “bạo lực tượng trưng”, nên cần có một biện pháp tương tự để đối chọi với nó trên các bình diện mà nó được kiến tạo nên, chứ không phải cứ nói xóa bỏ là xoá bỏ được.
Thứ nhất, về mặt lịch sử của nó, nếu nó được tạo nên từ quá trình “lịch sử hoá”, thì cách đảo ngược của ta, hay việc “phi lịch sử hoá” nó, sẽ phải bắt đầu trước hết từ việc ‘dựng lại lịch sử quá trình phi lịch sử hoá mang tính lịch sử’ ấy. Có nghĩa là ta phải tạo dựng lại cho được quá trình mà các yếu tố “khách quan” và “chủ quan” nhằm khu biệt các giới, kể từ lúc mà “đàn ông” và “đàn bà” xuất hiện, và đặc biệt phải được đặt trong ngữ cảnh của mối tương quan về sự thống trị. Nhưng lịch sử ấy là lịch sử về điều gì? Nếu là lịch sử của sự hình thành nên các biểu tượng, của quá trình vĩnh viễn hoá, thì đó là lịch sử phát triển của điều gì đó quá trừu tượng mà việc những con người phàm nhúng tay vào để đảo ngược nó sẽ là quá sức. Đó phải là lịch sử của các cơ chế cấu trúc (bao gồm các cơ chế giúp bảo toàn và củng cố) sự phân chia giới trong mối tương quan phối hợp kế tiếp với nhau trong các giai đoạn lịch sử, thông qua các thể chế và tác nhân để giữ cho nó được vững bền trong vô thức con người. Tức nghĩa là lịch sử về quá trình mà những thể chế xã hội tác động lên những cá nhân, đã bàn ở kỳ 2.
Thứ hai, ta việc tư duy khu biệt giới này không thể được xóa bỏ một cách dễ dàng như lời kêu gọi “hãy nhìn nhận thế giới ngoài sự nhị nguyên” nữa, bởi chúng không phải chỉ được quy định nên bởi hiệu lực của những yếu tố ngôn ngữ, tức là ngôn ngữ không phải cái duy nhất làm nên những habitus giới tính hiện tại, mà nó còn bắt nguồn từ sâu xa hơn là các cấu trúc, các sự vật và các cơ thể. hiệu quả của nó được khắc ghi trong tiềm tàng của mỗi cơ thể thông qua bạo lực tượng trưng, luôn ẩn hiện, tác động tới cách ta hành xử từ một vị trí vô hình, không phải lồ lộ ra ngay trước mắt và có thể nghe được trực tiếp như những ngôn ngữ thường nhật. Đó là những cấu trúc, như đã phân tích và được biểu diễn ở sơ đồ của bài trước, mà đã được vĩnh viễn hoá và sử dụng như những điều quá hiển nhiên trong xã hội, chưa thể bị phá vỡ hoàn toàn giống như những gì mà các nhà tranh đấu vẫn đang làm trên mặt trận thực tiễn…
Tất nhiên, có đấu tranh trên mặt trận vô thức thì cũng phải có đấu tranh trên mặt trận ý thức. Tuy nhiên, thay vì là đấu tranh giành quyền lợi cho một giới cụ thể, ta có thể đấu tranh để giành quyền lợi cho TẤT CẢ các giới. Một vấn đề đáng chú ý của cách đấu tranh này chính là, cần soi xét cho thật tận gốc của những vấn đề mà họ đang đấu tranh, sao cho thật triệt để. Lấy ví dụ như việc dù rằng ta đã cố đem lại cơ hội cho nữ giới được tiếp cận với những môi trường học thuật, nhưng lại không để ý rằng việc đào tạo phụ nữ chỉ đang được mở rộng về số lượng còn chất lượng vẫn nghiêng hơn về nam giới, như đại diện của nữ giới tiêu biểu ở các ngành học còn khá thấp so với nam giới, hoặc các học phần cao cấp, chuyên môn hay mang tính kỹ thuật cao lại được thiết kế thiên vị hơn cho nam giới (ví dụ như khi vào trường bách khoa, tôi bắt gặp khá ít những nữ sinh, dù rằng dân ta vẫn luôn tự hào về quyền bình đẳng học thuật của Việt Nam). Một trong những biểu hiện thực tiễn của nó là, người ta đưa ra cho nữ giới một thế lưỡng nan về việc học lên cao/có sự nghiệp trong sự đối lập với chuyện gia đình, nhưng chỉ đưa ra một lựa chọn duy nhất cho họ là hướng vào khu vực tư của chính mình: gia đình. Vấn đề về đấu tranh như vậy, lưu ý rằng nó đang diễn ra trên nhiều mặt khác của xã hội chứ không riêng gì giáo dục, học hành.
Để nói về một trong những hướng giải quyết nào đó cụ thể thì có thể kể đến “chính trị hóa” những mặt “khuất” mà nữ giới phải dự phần, tức là những khu vực tư như công việc nội trợ hay sinh nở của họ chẳng hạn. Nhưng như vậy không có nghĩa là bỏ qua sự thật là BẤT KỲ một mặt nào của người nữ, đã bị chia cắt bởi habitus-nam-tính, đều cần được quan sát và giải quyết một cách tường tận, chứ không phải là “đóng cửa bảo nhau” một cách rập khuôn máy móc. Như tôi đã đưa ra ở một đoạn nào đó, nếu, ví dụ, không trả lương cho việc nội trợ - một trong những quá trình tái sản xuất cần thiết của xã hội - người ta sẽ xem nhẹ mặt này, bởi lẽ một phần cũng là vì xã hội hiện tại người ta đang xem tư bản chủ nghĩa như một thứ tân tôn giáo còn tiền và lợi nhuận là những vị thần của nó. Tôi nói như thế không có nghĩa là đang kêu gọi làm một trò con bò vớ vẩn nào đó, kiểu như, “ừ giờ tôi thích thì đòi lương đấy, anh làm gì tôi?”, mà làm vậy là để người ta phải hướng sự chú ý của mình vào những vụn vỡ xã hội mà họ đã góp sức tán nhỏ ra. Người phụ nữ, nếu không được hưởng sự “chính trị hoá” ấy thì, một trong những hệ quả như đã phân tích, sẽ là việc họ CHỈ được xem như là những đồ vật (vật hoá) hay phương tiện để tái sản xuất quyền lực của phe thống trị và đem lại lợi nhuận tượng trưng cho các thể chế của xã hội nam giới mà những habitus-nam-giới sẽ luôn nắm thế thượng phong trong đó.
Nói chung, nếu không đấu tranh một cách triệt để, về bất cứ mặt trận nào đi nữa, thì không chỉ họ đang phải hưởng một phần kết quả kém ưu đãi hơn của cuộc đấu tranh họ đã lập quy ước với toàn xã hội, mà còn khiến họ phải chịu sự chia cắt khỏi nam giới nói riêng, và chia cắt lợi ích của họ trong một xã-hội-nam-tính (tức là xã hội bị thống trị bởi nam giới), như ngày nay, nói chung.
Nhận xét
Đăng nhận xét