(MỤC) - thoại
con mắt là gì?
Có thể bạn sẽ nghĩ tới cái câu nghe mòn tai "đôi mắt là cửa sổ tâm hồn" ấy, cái gì mà "nó cho ta thấy vẻ đẹp của thế giới, được thấy nụ cười của người mình yêu quý, được đọc văn chương thi ca với cả xem hội họa xem phim" vân vân mây mây.
Ừ thì nói vậy cũng được sao đâu, mình cũng yêu thích vẻ đẹp của thế giới như bao con người bình thường khác. nhưng nói vậy thì đã có gì đặc biệt nào? Chả lẽ là lời khuyên răn là mình hãy quý trọng vẻ đẹp của thế giới trước khi mình... mù hay gì? Chắc chắn không phải là trước cái chết, nó nói về con mắt chứ có lôi cuộc đời vô đâu. Mình thấy câu này như là một dạng truism, một cái câu mà nó hiển nhiên đến nỗi ai cũng biết mà dù có không có ý thức được việc đó thì mình biết đôi mắt mình là cửa sổ tâm hồn nó cũng chả giúp được gì. Đối với những người bình thường, nó vô dụng; đối với những người mù thật, mình có cảm tưởng như nó sẽ chả khác gì một sự khoe khoang, một sự flex, như nhổ vào mặt người ta vậy.
Mình không thấy ví con mắt như một thứ khác như vậy nó có ích lắm nên mình sẽ đảo ngược lại phương trình: đối với mình con mắt chính là những khái niệm, và vì vậy, con mắt có tiềm năng nhiều hơn là một thứ được tiền giả định: nó có thể được tạo mới, được thêm vào, được sáng tạo ra. Hmm, vậy khái niệm là gì cơ chứ?
Khi bạn nhìn ra (và tương tác với) thế giới, bạn thấy gì? có thể bạn gẩy dây đàn nó sẽ kêu tiếng, bạn kéo mảnh giấy thật mạnh nó sẽ bị xé ra, bạn hơ tay lên ngọn lửa sẽ thấy ấm, hoặc bị bỏng. Đè cây bút lên giấy mực sẽ tuôn ra và tạo thành những dòng chữ, bắn một viên bi vào một viên bi đang đứng yên thì cái đầu sẽ đổi chiều và chậm lại, cái sau sẽ bị bắn ra. Có lẽ là những thứ bình thường, chả ai buồn nhắc tới. Nhưng có phải cái việc mà sự vật sự việc a khiến cho sự vật sự việc b xảy ra liệu là thứ ta quan sát được hay ta chỉ thấy được a, rồi sau đó ta thấy b nối tiếp ngay sau a?
Một cách mình nghĩ tốt hơn để minh họa việc này là tưởng tượng một người sinh ra và lớn lên hoàn toàn trong một thí nghiệm, trong đó mỗi khi bạn đó chạm vào tai mình thì sẽ bị giật điện nhẹ. Nếu ta hỏi bạn này về việc đó, bạn đó sẽ trả lời rằng việc mình chạm tay vào tai chính là nguyên nhân trực tiếp của việc bị giật điện, và có lẽ bạn sẽ không ngại ngùng gì đứng lên khẳng định điều đó là sai. Chỉ có điều, cái sự liên kết nguyên nhân-hệ quả ấy, nó thực sự không khác gì việc bạn sẽ nói chính ngọn lửa đã làm bạn bị bỏng. Liệu có tồn tại cái thứ gọi là nguyên nhân-hệ quả hay nó chỉ là một ảo giác khiến bạn liên kết một việc a với một việc b khác đã diễn ra sau a suốt hàng trăm ngàn lần? Liệu đó là một sự liên kết thật sự hay chỉ là một sự đồng nhất trong quá khứ? Lửa đã đốt cháy hàng triệu lần trước đó, nhưng đó có phải là bằng chứng rằng nó sẽ cháy lần sau, hay là bằng chứng là chính ngọn lửa đó nó gây cháy mà không phải cái gì đó khác mà mình không để ý tới? Bạn có thể dùng những lời giải thích khoa học như lửa cháy vì các phân tử chuyển động cực nhanh các kiểu, nhưng bạn có bằng chứng nó không chỉ là những hiện tượng xảy ra gần nhau về thời gian và không gian mà còn có cả sự liên hệ kết nối giữa việc các phân tử chuyển động nhanh hơn bình thường, sự tỏa nhiệt và ánh sáng, sự phá trụi của vật thể khi đến gần ngọn lửa và cảm giác bị bỏng? Bạn có thể nói tứ chi chuyển động là do các xung điện truyền tự não về hệ thần kinh, nhưng bạn có chứng minh được ý chí của mình đã tạo ra các xung điện đó, và các xung điện đó làm chuyển động các cơ tay cơ chân? Hay tưởng tượng rất dễ dàng như trong phim ma trận, liệu lửa làm mình bỏng hay ngọn lửa chỉ là ảo giác còn việc mình bị bỏng là do các mã code gì gì đấy điều khiển não bộ mình?
Liệu đó có thể là ảo giác không, thì không ai biết cả, mình cũng không giả vờ biết. Nhưng có điều chắc chắn, đó là: bạn không quan sát và trải nghiệm được mối liên hệ nguyên nhân-hệ quả, bởi nếu bạn biết được điều đó, chỉ qua việc quan sát ngọn lửa, bạn sẽ biết trước được nó sẽ gây bỏng dù chưa chạm vào ngọn lửa nào trên đời. Đây là vấn đề về quan hệ nhân-quả nổi tiếng của david Hume: ta không trải nghiệm, quan sát, và vì thế không thể biết được về mối quan hệ nhân-quả của các vật, mà mối quan hệ đó chính là do lý tính ta tự tạo nên giữa các vật. Vậy chả lẽ là đầu bạn tự chế ra? Có thể nói là như vậy, nhưng không phải bạn cố tình tự chế nó ra. Tưởng tượng cái đầu như một cỗ máy, có mắt mũi thu thập thông tin cho, và để bạn hiểu được thông tin đó thì phải có những bộ phận gắn kết lại thông tin với nhau. Ừ thì ai cũng biết là khi có thông tin rồi não bạn sẽ xử lý nó, nhưng việc xử lý mà nhiều người nghĩ tới đó là một quy trình do chính bạn chứ không phải cái vô thức gì đó điều khiển. Thực ra trước khi chính bạn được ngồi vào quản lý thông tin thì nó đã được xử lý sẵn: mọi thứ trong thế giới rời rạc và riêng lẻ, nhưng khi đã đến tới bạn nó đã có những mối liên kết, quan hệ rõ ràng tới mức bạn nghĩ cái sự liên kết đó nó là tự nhiên rồi: bạn đã tiền giả định tính chất và sự liên kết của các sự vật sự việc.
Ngoài nhân-quả của Hume, Immanuel Kant còn cho rằng, cái gì đơn lẻ, cái gì nhiều, cái gì là tính chất đặc thù của cái gì, cái gì là phủ định của cái gì,... (các phạm trù của sự hiểu biết), chúng ta không hề quan sát được những mối quan hệ này, mà đó là những gì lý tính tạo ra cho ta hiểu. Ta quan sát được nhưng để hiểu ta đang quan sát cái quái gì đang diễn ra thì phải có những cái sự xử lý, hay các "khái niệm" (concepts). Con người có các khái niệm, động vật cũng vậy dù ít hơn, nhưng máy móc không có khái niệm: nó chỉ thu thập thông tin và xử lý theo lập trình các thông tin đó, nhưng nó không hiểu được, không chỉ vì nó không có ý thức, mà nó cũng không có các khái niệm này. Con người không phải cái két hở để lấp đầy, cái bảng trống để viết lên như locke nói, mà đó là một cỗ máy chủ động tương tác với thế giới như thế giới tương tác với ta, nó đi hai chiều chứ không phải một chiều như Locke nói.
Vậy có gì đặc biệt ở mấy cái khái niệm này? Những khái niệm như trên thì, dĩ nhiên ai chả có. Những khái niệm như nhân-quả, cái gì có thể cái gì không thể, cái gì thật cái gì không thật, hay những thứ mà phải học qua kinh nghiệm như trọng lực, lửa cháy đá tan vân vân là những khái niệm về thế giới tự nhiên. Những khái niệm này là phổ quát với toàn loài người, đến từ việc não bộ (hay đúng hơn là sự giới hạn của lý tính) loài người đều đồng nhất (trừ khi bạn bị tâm thần phân liệt), và toàn bộ loài người đều sống trong một thế giới tự nhiên như nhau. Còn những thứ về toán học hay lôgíc học (1 + 1 = 2, mọi phần tử thuộc A đúng mà b thuộc A suy ra b đúng vv) cũng như vậy, có điều nó độc lập với cả thế giới tự nhiên lẫn lý tính con người. Mà tính ra mấy cái đó thì giống tri thức hơn là khái niệm? kệ mình gà triết lắm. Những khái niệm này được tiền giả định bởi mọi người, vì thế bạn mới sống được như người bình thường, vì thế mới xây nhà trồng lúa được, vì thế khoa học mới khả thi.
Mà vì việc nó được tiền giả định như vậy thì nó cũng không đặc biệt, chả khác gì nói đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, có điều thay vì mình flex với người mù thì mình đang flex với người bị tâm thần phân liệt. Nhưng cũng có những khái niệm mà nó không phổ quát như thế, nó khác với mỗi người, nó biến thiên, thay đổi hàng ngày hàng giờ; ta gặp những người có những khái niệm khác hoàn toàn mình mỗi ngày và những khái niệm mới hoàn toàn có thể được sáng tạo ra. Những khái niệm này mình thích gọi là các khái niệm ý nghĩa: ý nghĩa về xã hội, ý nghĩa về nghệ thuật (đẹp xấu), ý nghĩa về cuộc sống (thiện ác), kể cả những ý nghĩa về thế giới tự nhiên (siêu hình kiểu Chúa trời), kiểu vậy. Và vì thế đối với mình con mắt chính là các khái niệm: bởi lẽ ta không nghĩ về con mắt như hai cái cục tròn tròn gắn với não qua một cọng thần kinh tiếp hình ảnh cho não, ta không nghĩ về thế giới như một thực thể rời rạc riêng lẻ cứng khô: con mắt của ta chính là hình ảnh của thế giới, cả những thứ hiện hữu hay trước mặt hay những thứ không lộ mặt, và hình ảnh đó không rời rạc vô hồn, nó đầy những sự sống, nó hiện hữu vẻ đẹp xấu, những hành động có tính thiện ác, và những người khác không phải là vật thể tứ chi biết tự di chuyển biết kêu ra tiếng, đó là những tâm hồn như chúng ta vậy. Chúng ta không thụ động cảm nhận thế giới, chúng ta chủ động gán cho nó những sự liên kết, những sự kết nối, và những ý nghĩa. Và qua những sự liên kết, kết nối, ý nghĩa này, ta thấy được thế giới và hiểu nó theo nghĩa của riêng ta. Và theo nghĩa này, chúng ta hiểu thế giới qua ngôn ngữ, chứ ngôn ngữ không phải là một thứ trung gian giữa người và người. Con mắt là khái niệm, là ngôn ngữ.
Một tập hợp các khái niệm ý nghĩa của một người được gọi là thế giới quan (công dân flashbacks, i know) và thì dĩ nhiên nó sẽ khác với từng người và nó sẽ thay đổi theo thời gian. Có thể là do giới tính (gender, not sex), chủng tộc, tôn giáo, có thể là do đất nước bạn sinh ra, do những người mà bạn tiếp xúc được như bố mẹ hay bạn bè, hay địa vị xã hội gia đình bạn, và cả những trải nghiệm nhỏ hơn... tất cả những thứ này sẽ tạo nên cho bạn một thế giới quan riêng. Và dĩ nhiên, do những yếu tố này có thể sẽ đồng nhất và phổ quát đối với một nhóm người trong xã hội, từng nhóm người đó sẽ có những thế giới quan giông giống nhau về nhiều khía cạnh: người nghèo sẽ có thế giới quan khác với người trung lưu khác với người giàu, hay người Việt có thể có thế giới quan khác người Pháp vv. Ngôn ngữ cũng sẽ có ảnh hưởng như vậy: có thể người Việt sẽ gộp cả green với blue thành màu xanh, nhưng người Anh hay Pháp thì sẽ không thể hiểu giống nhau chỗ nào. Đây là những bộ khái niệm mà bạn có thể sẽ nhận được, hay thừa hưởng, từ các nhóm trong xã hội (demographics) mà bạn thuộc về. Có những khái niệm mà bạn sẽ tự khám phá ra được qua thời gian mà không nhất thiết phải được áp đặt lên bạn từ việc bạn sinh ra trong nhóm xã hội nào, như tình bạn, tình yêu, dậy thì, thành công, thất bại, lạc quan hay bi quan, yêu đời hay chán đời, thường là những thay đổi, những thách thức lớn đối với thế giới quan trước đó (các paradigm shifts), và dù thường những khái niệm có thể có nhiều điểm tương đồng với những khái niệm của nhiều người khác cũng có trải nghiệm như bạn, nó vẫn có một nét riêng của bạn trong đó, dù ít hay nhiều: một sự khám phá, hay thậm chí là sáng tạo các khái niệm mới. Cách bạn nhìn ra thế giới thay đổi, ý nghĩa của các từ nhất định đối với bạn thay đổi, thái độ của bạn đối với thế giới thay đổi: con mắt được đổi mới, được sáng tạo lại, được tái sinh ra hàng ngày. Việc bạn lớn lên, việc bạn học hỏi, đó là việc bạn khám phá, sáng tạo ra những ý nghĩa mới cho ngôn từ và từ đó chính là những cách nhìn mới cho thế giới.
Từ triết học ý, trong tiếng anh nó là philosophy, với philo là sự yêu thích (giống kiểu trong pedophilia, yêu thích trẻ con=))) còn sophia là tri thức. Mà tri thức thì từ ban đầu nó phải đến từ sự thật, sự thật tuyệt đối độc lập khỏi chúng ta. Thì hơn hai ngàn năm sau đó ta đã biết là... ta chắc chắn không biết gì hết. Sự thật tuyệt đối chúng ta không bao giờ có thể với tới dù khoa học công nghệ phát triển đến mức nào: những giới hạn của lý tính con người nó như cái kính râm mà mình đeo dai dẳng từ nhỏ đến lớn không bao giờ gỡ ra được, ta chỉ thấy mọi thứ nó tối tối chứ không thấy được màu sắc thực sự của thế giới. Điều tốt nhất ta có thể làm được là định cái giới hạn đó và làm việc trong khuôn khổ đó thôi. Khoa học tự nhiên cũng vậy: nó là cái kính hiển vi giúp chúng ta nhìn rõ hơn, những vẫn là trong chiếc kính râm không gỡ ra được. Dù vậy, chúng ta đều có cùng chiếc kính và việc chúng ta đeo nó cũng chẳng ảnh hưởng gì, nên giờ ta không quan tâm đến nó cũng không sao, vậy ta có thể nói sự thật, tri thức là những gì ta tìm hiểu được từ khoa học tự nhiên. Vậy triết học-philosophy còn lại những gì?
Mình thích định nghĩa của Gilles Deleuze: triết học là sự sáng tạo ra các khái niệm mới, hay theo như "thuật ngữ" của mình thì là các khái niệm ý nghĩa. Có thể bạn đã biết đến sự khác biệt giữa gender như một cấu trúc xã hội và sex như một đặc điểm sinh học, nhưng đó vẫn là một sự phân biệt được sáng tạo ra để dễ thấy hơn sự khác biệt giữa những nhóm khái niệm khác nhau; hay tư bản là một khái niệm để bao quát toàn bộ phương thức sản xuất và phân phối hàng hóa của thời điểm hiện tại; hay có thể là hữu thể (dasein) của Heidegger, biện chứng luận của Hegel và Marx, simulation và simulacra của Baudrillard, các xã hội kiểm soát, kỷ luật và vương quyền của Foucault, hiện sinh của Sartre, sự giải-tái lãnh thổ hóa, gốc rễ hay phi quan thể của Deleuze, hay những thứ đơn giản nghe đến chán như quyền con người, công lý, luật pháp, dân tộc, nhà nước, tiền tệ mà ai cũng sử dụng hàng ngày. Đến cả khái niệm con người cũng là một thứ còn đang được tranh cãi. Có thể hiểu là: chúng ta thường nhìn thế giới theo một trật tự nhất định, có thì cũng không thay đổi nhiều lắm, và nhiệm vụ của triết học đó chính là phá đổ trật tự đó đi và thí nghiệm nhiều cách sắp xếp lại khác nhau. Sự tạo ra các khái niệm, kết hợp nó lại, vẽ những đường kết nối và phân chia nó ra, từ đó giúp ta hiểu thế giới theo một cách khác xa bình thường, có thể là bao quát hơn, có thể là phóng vào những hành động nhỏ nhặt nhất và tìm ra những sự kết nối mới với những thứ mà mình chưa bao giờ nghĩ ra, và tạo ra tiền đề để cải thiện đời sống riêng mình và tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn, nếu có thể. Có thể nó sẽ được dùng để nghiên cứu các vấn đề xã hội học với chính trị, hay cũng sẽ có những bạn chỉ học cho vui hay học để lý luận văn học với phim ấy, cũng chả sao.
Vấn đề là: đừng nghĩ mấy ông triết gia là mấy ông già da trắng suốt ngày ngồi trong phòng mường tượng mây sao chúa trời, hay các nhà hiền triết đi tu viết ngẫm nghĩ về khổ đau hay hạnh phúc, đó giờ được mấy trăm năm rồi. Họ có thể không tạo ra những giá trị vật chất hay thực dụng như các kỹ sư hay lập trình viên, nhưng họ nhìn vào những thứ vật chất đó và nghiên cứu đâu là tác dụng của nó lên con người hay xã hội; họ có thể không phải là nhà lãnh đạo nhưng họ nghiên cứu những sự kiện kinh tế chính trị mà không tiền giả định một tư tưởng của riêng họ hay cái gì tốt cái gì không tốt; họ không như những nhà khoa học xã hội hay tâm lý học chỉ đi thu thập thông tin rồi làm bảng làm sơ đồ: giống như ví dụ cái máy tính từ trước, họ sẽ sử dụng và tạo ra các khái niệm, các thuyết mới để hiểu và sắp xếp những thông tin đó, và từ đó họ sẽ cho ta một góc nhìn mới cũng như một lối để thoát khỏi cái vũng lầy mà ta đang chìm đắm vào. Câu hỏi chính có thể từng là: có tồn tại chúa trời chăng, rồi cái gì thiện cái gì ác, ý nghĩa cuộc đời là gì, vv Nhưng bây giờ, dường như nó đang hướng tới: mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, với xã hội là gì, cái gì cấu tạo nên những gì ta hiểu biết về xã hội ta đang sống, hay những việc ta làm đang thực sự phục vụ ai hay cái gì. Triết học, hay rộng hơn là "thuyết học" (theory) như mình thích gọi hơn, sẽ cho ta con mắt để nhìn nó rõ hơn, để hiểu, phê phán và thay đổi thế giới. Lại quote Gilles Deleuze: không có việc gì phải hi vọng hay lo lắng, chỉ cần phải kiếm thêm những vũ khí mới. Theo mình, vũ khí này chính là con mắt của triết học.
Chúng mình đặt tên cho câu chuyện này là Mục Thoại - Câu chuyện con Mắt - Câu chuyện của những khái niệm. Có thể hiểu, đây là chỗ buôn vũ khí. Vũ khí chống gì cơ chứ? Chủ yếu là tư bản, định kiến và sự giáo điều. Ừ đấy, redpill và đồng bọn đừng hòng mà có chỗ ngồi đây. Sẽ có văn thơ, có phim ảnh, có những câu chuyện nhỏ, những cuộc bàn luận về các vấn đề xã hội, và dĩ nhiên là triết học. Nói chung, một tiệm mắt kính, tiệm vũ khí của một đám nhóc buồn đời, y hệt như bạn vậy.
pontmercy.

Nhận xét
Đăng nhận xét