διαλεκτική
Cái đống chữ nhìn như mấy con giun trên kia, nếu phiên ra các ký tự la tinh sẽ là “dialektikḗ” (mặc dù định dạng của blogger có thể hơi xỉn nhưng mà nah), tức là biện chứng. Vậy thì, biện chứng là gì?
Thuật ngữ “biện chứng” ban đầu, ý nghĩa sơ khai nhất không phải để chỉ một mối quan hệ hữu cơ, đan bện, tác động qua lại lẫn nhau như các SGK vẫn thường nói. Thực tế, ban đầu biện chứng bắt nguồn từ Socrates. Nói đúng hơn, “biện chứng của Socrates” là khái niệm để chỉ hình thức biểu diễn triết học của Socrates, tức là mấy ông già ra công viên ngồi nói chuyện với nhau. Ông này cãi với ông kia, các quan điểm đối lập, rồi dần dần các ông tìm ra được hướng giải đáp chung nhất cho các vấn đề được đặt ra. Quá trình của biện chứng Socrates sẽ là như này: trước hết, một ông nào đó sẽ nêu lên luận điểm hay chính đề (thesis) của mình; sau đó, mấy ông khác sẽ đưa ra các phản đề (antithesis), nói chung là phản bác lại ông đề ra bằng những lập luận nào đó; cuối cùng, mấy ông sẽ đưa ra một sự thống nhất, hay hợp đề (synthesis) để tạo ra một kết quả chung. Nếu đọc “đối thoại với Socrates” của Daisetsu Fujita, ta cũng sẽ thấy một mô hình tương tự: thoạt tiên, nhân vật chính sẽ chán đời và càu nhàu gì đó cho một ông-già-xuyên-không Socrates nghe, sau đó, ông sẽ hỏi nhân vật chính một vài câu hỏi tưởng như vớ vẩn (ví dụ “theo cậu, bạn bè là gì?”); nhân vật chính sẽ trả lời, Socrates lại hỏi bồi vào những câu hỏi “vớ vẩn khác”, nhưng càng ngày càng khiến nhân vật chính hoài nghi về những nhận thức anh đã biết (chắc Socrates bị bế ra tòa là thế :v), và khi anh chịu thua, Socrates sẽ kết luận lại. Đúng như cái mô hình thesis - antithesis - synthesis. Phép biện chứng cổ đại chỉ là một sự biểu hiện của nhận thức vô tận, tức là trong nó sẽ chỉ có các khái niệm liên quan tới nhận thức. Ví dụ như Socrates thường hỏi người ta những câu như “dối trá là thế nào”, “tình bạn là gì”, những khái niệm trừu tượng chỉ có thể giải thích bằng những lý luận tiên nghiệm. Vậy nên, vì những khái niệm, hay nói đúng hơn là các buổi trò chuyện biện chứng của các triết gia Hy Lạp, bản chất là các cuộc gắn kết những khái niệm tinh thần bất tận vô hồi kết.
Dần dần, thuật ngữ “biện chứng” được phát triển và lý thuyết hóa, như người ta nhận xét: đạt đến đỉnh cao thời kỳ Hegel. Và về bản chất, khái niệm biện chứng của quá trình xuyên suốt từ Kant cho tới Hegel cũng là một kiểu “mô hình” mang tính trừu tượng từ những gì mà mấy lão Hy Lạp đã làm. Đầu tiên, một đối tượng sẽ được đề ra, và từ đó lại nảy sinh thêm một mặt đối lập của nó; hai mặt đối lập này vừa đối kháng nhau, vừa bổ sung cho nhau (không chỉ chúng thúc đẩy nhau buộc phải trở nên lớn mạnh để tiêu diệt phe còn lại, mà chúng buộc phải tồn tại để có cơ sở cho cái còn lại tồn tại). Ấy là phép biện chứng duy tâm, khi cho rằng các tác động biện chứng sinh ra trong tâm trí và dẫn tới những biểu hiện trong hiện thực.
Khái niệm ấy được các nhà duy vật biện chứng (hay ít nhất là SGK) gọi là “mâu thuẫn”. Và khái niệm “mâu thuẫn” hẳn đã gieo vào mỗi học sinh cấp 3 một nỗi ác mộng kinh hoàng: “mâu thuẫn gồm hai mặt đối lập, vừa thống nhất vừa đấu tranh lẫn nhau” . Và theo các nhà Marxist, tức là các nhà biện chứng duy vật, thì các tác động biện chứng bắt nguồn từ thực tại và chỉ khi xảy ra mới có cái cho tâm trí tri nhận. Khái niệm ấy được áp dụng rất nhuần nhuyễn trong các học thuyết đấu tranh giai cấp của Marx. Ông cho rằng, lịch sử xã hội luôn là lịch sử đấu tranh giai cấp, luôn là các giai cấp đối lập lẫn nhau. Giai cấp thống trị tồn tại, dẫm đạp lên giai cấp bị trị, giai cấp bị trị phải trở nên lớn mạnh để lật đổ giai cấp thống trị. Sau khi giai cấp thống trị bị lật đổ, cách thức tổ chức xã hội ấy sụp đổ thì xã hội khác ra đời. Ví dụ, thời cổ đại là sự đấu tranh của nô lệ và chủ nô, phong kiến là sự đấu tranh của nông dân và quý tộc, còn hiện đại là đấu tranh của vô sản và tư sản. Các nhà Marxist cũng dựa theo phép lý luận về kết quả tất yếu của một giai đoạn biện chứng là một mặt đối lập phải bị sụp đổ dưới tay của mặt còn lại, cho rằng một ngày nào đó, giai cấp vô sản, dưới sự dẫn dắt của cộng sản, sẽ lật đổ được giai cấp tư bản.
Về sau, người ta tinh giản ý nghĩa của biện chứng như một khái niệm chỉ sự “các khái niệm có mối quan hệ hữu cơ lẫn nhau”. Tức là, chẳng còn đối lập, chẳng còn đấu tranh, những gì còn lại là những khái niệm đan cài lẫn nhau. Đối lập với khái niệm “tinh giản” ấy là “siêu hình”, tức là nhìn nhận hai sự việc tách bạch nhau (tôi vẫn chưa rõ vì sao người ta lại nghĩ thế). Vậy nên, “biện chứng” không phải đơn thuần chỉ có một nghĩa là mối quan hệ hữu cơ giữa các mặt đối lập như ta vẫn thường được học, mà sâu xa trong nó, vẫn còn rộng cửa cho ta khám phá và lấp vào các chỗ trống trong ấy...

Nhận xét
Đăng nhận xét