Xã hội chủ nghĩa (Albert Einstein)

[Lời tựa: bài này, ban đầu là dịch từ Bài viết “Why socialism?” của Albert Einstein, đăng trên tạp chí Monthly Review, một tạp chí xã hội chủ nghĩa của Mỹ vào tháng Năm, 1949. Tuy nhiên, vì bài viết gốc còn mang khá nhiều những màu sắc hay kinh nghiệm cá nhân, tức là kinh nghiệm của một người sống lâu dài ở Mỹ, mà người đọc thì không phải ai cũng là người Mỹ, vậy nên chúng tôi đã có chỉnh sửa lại bài viết của ông, và có đôi chỗ có chú thích, nhưng vẫn giữ lại nhiều chi tiết để người đọc ta dễ hình dung, dễ tiếp nhận và hiểu đúng nhất những gì ông đã viết. Bài viết này, trên tinh thần của bài viết từ Einstein, và công lao vẫn là của Einstein; chúng tôi chỉ là những người góp phần xây dựng thêm cho bài viết này có thể tiếp cận và dễ hiểu hơn bởi các độc giả, vậy nên sẽ ít nhiều khác bài viết gốc. Có thể tham khảo bài gốc của ông để hiểu được bối cảnh và những chất liệu ông đã đưa vào bài viết.]

Liệu có nên khuyến khích một kẻ không chuyên về mấy vấn đề kinh tế xã hội như tôi trình bày quan điểm của mình về một vấn đề gai góc như xã hội chủ nghĩa (XHCN)? Tôi tin là nên, với một số lý do như sau.

Thứ nhất, ta nên nhìn nhận vấn đề này từ góc nhìn tri thức khoa học. Có thể phương pháp luận của thiên văn và kinh tế thoạt nhìn chẳng có sự khác biệt nào về bản chất: các nhà khoa học trong mỗi lĩnh vực đều cố khám phá ra những quy luật về khả năng chấp nhận phổ quát cho một nhóm sự vật sự việc để hình thành những mối liên hệ mật thiết của những hiện tượng này một cách càng dễ hiểu càng tốt. Nhưng trong thực tế, những khác biệt về phương pháp luận thật sự tồn tại. Quá trình khám phá ra các quy luật phổ quát trong lĩnh vực kinh tế gặp phải khó khăn (so với trong khoa học tự nhiên chẳng hạn) do thực trạng của các hiện tượng kinh tế thường bị tác động bởi nhiều yếu tố khó đoán, rối rắm, khiến cho việc đánh giá các hiện tượng này một cách rõ ràng, rạch ròi bị cản trở. Hơn nữa, những kinh nghiệm được tích lũy kể từ thuở sơ khai của cái thường gọi là giai đoạn văn minh của lịch sử nhân loại – như ta đã biết – phần lớn chịu ảnh hưởng và bị giới hạn bởi những yếu tố không hề mang tính thuần túy kinh tế. Ví dụ, các quốc gia lớn trong lịch sử chủ yếu được sinh ra bởi việc chinh phục kẻ khác. Những kẻ chinh phục trở thành giai cấp thống trị đặc quyền trong những vùng đất bị chinh phục, cả về mặt pháp lý lẫn kinh tế. Chúng điều khiển đời sống sản xuất thông qua độc quyền về cai quản đất đai, điều khiển đời sống tinh thần thông qua sự thống trị về tín ngưỡng, tôn giáo. Thông qua sự thống trị về tinh thần – ấy là giáo dục, tôn giáo, văn hóa – sự chia rẽ xã hội thành các giai cấp được biến thành một thể chế vĩnh viễn, khi người bị trị sẽ phải tuân theo một hệ thống các giá trị đặt ra bởi kẻ cai trị: một hệ thống các giá trị phát minh ra bởi giai cấp thống trị và giả trang thành sự thật tuyệt đối, dắt mũi mọi hành động của người bị trị, phần nhiều một cách vô thức, nhằm dễ bề cai trị đám ‘dân đen’. [Ở Việt Nam thời phong kiến chẳng hạn, ta có Nho giáo và các giá trị như ‘nhân lễ nghĩa trí tín’, các ý niệm về quân tử tiểu nhân, hay các định kiến về giới tính v.v.; nhiều giá trị trong số này tiếp tục ảnh hưởng tới thời hiện đại, nhưng càng ngày càng bị thay thế bởi những giá trị mới, những công cụ cai trị mới. Chú thích của dịch giả.]

Dù vậy những truyền thống, văn hóa lịch sử ấy chỉ là phần bề mặt của cốt rễ xã hội: cách sắp xếp tổ chức bộ máy kinh tế. Và khi ta vượt qua những giá trị lu mờ ấy và thực sự nghiên cứu cốt lõi của vấn đề, ta sẽ thấy rằng: chúng ta vẫn chưa hề vượt qua cái giai đoạn nguyên thủy nơi con người săn nhau kiếm mồi như người đồ đá săn thú vật, như ta vẫn hay nghĩ. Những sự thật và quy luật khoa học kinh tế cho thấy rõ điều đó. Và từ đó ta thấy, bất chấp mọi định kiến mà ta hay ngộ nhận, mục đích thật sự của những người tin vào XHCN chính là để vượt qua và vươn cao hơn giai đoạn ‘săn mồi’ đó, tiến tới một xã hội nơi nhân loại có thể chung sống hòa thuận, coi trọng lẫn nhau như con người và thực sự được tự do. Và đây cũng không hề là một giấc mơ không tưởng: qua việc nghiên cứu cách xã hội loài người vận hành suốt chiều dài lịch sử bằng khoa học kinh tế, ta có thể không chỉ hiểu được các quy luật của một xã hội, mà còn các quy luật của sự thay đổi trong xã hội, và từ đó hiểu được vài thứ về một xã hội tương lai: một thế giới XHCN.

Đó là về khía cạnh khoa học. Thứ hai, CNXH hướng tới mục đích một xã hội–đạo đức. Như ta đã thấy, khoa học, ví dụ như khoa học kinh tế, chính là bệ đỡ cho bất kỳ sự hiểu biết nào về con người và xã hội (bên cạnh thiên nhiên). Khoa học cho ta biết vạn vật LÀ gì; tuy nhiên, khoa học không thể chỉ cho ta biết ta NÊN làm gì với chính mình, với nhau và với vạn vật ấy, nghĩa là nó không thể tạo ra các mục đích cho ta, và dĩ nhiên không hề có thể khiến cho thấm nhuần những mục đích ấy trong thâm tâm con người. Khoa học, nhiều nhất thì cũng chỉ có thể cung cấp cho ta PHƯƠNG TIỆN để đạt tới những mục đích ấy mà thôi. Nhưng bản thân những mục đích ấy lại được hình thành từ những nhân cách có lý tưởng đạo đức cao cả và – nếu những mục đích ấy không bị bóp chết ngay từ trong trứng nước, mà ngoan cường và mạnh mẽ – sẽ được nuôi dưỡng và tiếp bước bởi những con người mà, qua việc đó, sẽ quyết định tới sự tiến hóa lớn lao dù lề mề của xã hội.

Chính vì những lý do này, ta cần đề phòng để tránh đánh giá quá cao khoa học và phương pháp khoa học khi ta đương đầu với vấn đề nhân sinh như đây, và ta cũng không nên cho rằng chỉ những chuyên gia mới là những người có quyền bày tỏ quan điểm của họ về những câu hỏi đụng tới sự sắp xếp của xã hội – nhất là khi những chuyên gia này, ăn tiền của giai cấp thống trị, hoàn toàn có khả năng thúc đẩy những giải pháp có ích cho mình họ, và rộng hơn là toàn giai cấp thống trị.

Vô số những tiếng nói đã khẳng định từ khá lâu rồi rằng xã hội con người đang hứng chịu qua một cuộc khủng hoảng, rằng sự ổn định của nó đang bị vỡ vụn nặng nề. Không khó bắt gặp, trong những trường hợp khủng hoảng như trên, những cá nhân thờ ơ hay thậm chí thù địch đối với một nhóm người, dù nhỏ hay lớn, mà họ thuộc về, như gia đình, đất nước, hay thậm chí là toàn nhân loại. Để minh họa cho ý kiến của tôi, để tôi ghi nhận ra đây một trải nghiệm cá nhân. Gần đây tôi có thảo luận với một người có tình có lý về nguy cơ của một cuộc chiến tranh đang lửng lơ trên đầu mà, trong thâm tâm tôi cho rằng, sẽ tổn hại nặng nề tới sự tồn vong của nhân loại; và tôi có lưu ý rằng chỉ có một tổ chức liên quốc gia mới có thể cho ta một sự cứu vãn khỏi nguy cơ ấy. Liền sau đó vị khách của tôi nói với tôi, một cách điềm nhiên và lạnh lùng: “Sao ông có vẻ phản đối quá đáng việc nhân loại diệt vong thế?”.

Tôi chắc rằng, chỉ tầm một thế kỷ trước, sẽ chẳng ai dám thốt lên một nhận định kiểu vậy, dù chỉ một ít. Đó là một nhận định của một người đàn ông đã cố gắng quá sức dù vô ích để đạt được trạng thái tịnh tâm và đã ít nhiều mất hy vọng thành công. Đó là một sự giãi bày của một sự cô đơn đầy đau đớn và khu biệt mà nhiều người đang phải chịu đựng ngày nay. Nguyên do là gì? Có lối thoát chăng?

Đưa ra một câu hỏi thì dễ, nhưng khó mà trả lời với bất cứ mức độ bảo đảm nào. Tuy nhiên, tôi phải thử làm tốt nhất có thể để làm điều đó, dù tôi rất ý thức cái lẽ rằng cảm xúc và nỗ lực của chúng ta đôi khi rất mâu thuẫn và mờ mịt, và rằng chúng không thể được diễn giải bằng những công thức đơn giản và phổ quát như tôi hay quen làm.

Con người vừa là một sinh vật đơn độc một mình, vừa là một sinh vật xã hội. Như một sinh vật đơn độc, họ sẽ cố gắng bảo vệ sự tồn tại của bản thân và của những người thân nhất với họ, để thỏa mãn mong muốn cá nhân, và để phát triển khả năng bẩm sinh của mình; một “ý chí cá nhân” hay “ích kỷ”. Như một sinh vật xã hội, họ mong mỏi được công nhận và yêu thương bởi đồng loại của mình, được chia sẻ sự hân hoan, được an ủi những nỗi buồn, và được cải thiện điều kiện cuộc sống của họ; một “ý chí xã hội”. Chỉ có sự tồn tại của những “ý chí” đa diện và thường xuyên xung đột này mới giải thích được bản chất đặc biệt của con người, và chỉ có sự kết hợp của chúng mới xác định được mức độ mà một cá nhân có thể đạt được hạnh phúc cho cá nhân và đóng góp vào hạnh phúc chung của xã hội. Rất có thể tương quan lực lượng của hai ý chí này được quyết định qua di truyền. Nhưng cái cá tính xuất hiện cuối cùng của một người lại phần lớn được hình thành bởi môi trường nơi người đó được sinh ra và lớn lên, bởi cấu trúc xã hội của môi trường đó, bởi truyền thống của xã hội ấy và bởi cách đánh giá các loại hành vi nhất định của nó, dù là khen hay là chê. Khái niệm trừu tượng “xã hội” đối với mỗi cá nhân là tổng hòa các mối quan hệ trực tiếp hay gián tiếp của cá nhân đó đối với mọi người trong xã hội đó, đối với các thế hệ hiện tại, quá khứ và thậm chí trong tương lai. Cá nhân ấy hoàn toàn có khả năng suy nghĩ, cảm giác, nỗ lực và làm việc một mình, tự thân; nhưng họ gọi loài người là con vật xã hội không phải là không có nguyên do: mỗi cá nhân đều phụ thuộc rất nhiều vào xã hội – về cả khía cạnh vật chất, ý thức lẫn tình cảm – đến nỗi khó mà có thể mường tượng tới cá nhân đó, hay hiểu được họ, nếu tách biệt họ khỏi toàn thể xã hội. Chính cái “xã hội” này cung cấp con người thức ăn, quần áo, tổ ấm, công cụ làm việc, ngôn ngữ, các thể suy nghĩ, và phần lớn nội dung tư tưởng của người đó. Ta thậm chí còn có thể nói rằng cách mỗi cá nhân hiểu về mọi mặt thế giới, dù là thế giới tự nhiên tách rời khỏi ‘văn minh’ hay thế giới riêng biệt của bản ngã người đó tách rời khỏi bất kỳ mối quan hệ nào, đều được nhào nặn bởi chính khuôn tư tưởng mà xã hội đã sắp đặt cá nhân đó vào. Cuộc đời mỗi người được chỉ khả thi bằng lao động, thành tựu của hàng triệu người đi trước đến hiện tại, và mọi thành quả lao động của mỗi cá nhân đều sẽ ảnh hưởng, dù ý thức hay vô thức, đến các thế hệ tương lai; tất cả đều ẩn náu dưới con chữ bé nhỏ “xã hội”.

Do đó, hiển nhiên rằng sự phụ thuộc của một cá nhân vào xã hội là bản chất không thể bãi bỏ - hệt như cái kiến cái ong buộc phải dựa vào tổ của mình. Tuy nhiên, trong khi toàn bộ quá trình sống của kiến và ong được sắp đặt tới từng chi tiết nhỏ nhất bởi những bản năng kẹt gỉ được di truyền, thì quy luật xã hội và mối tương quan của con người vô cùng đa dạng và rất dễ thay đổi. Trí nhớ, đi kèm theo lý tính, tức khả năng tạo ra những kết hợp mới giữa các ý nghĩa và hiểu các kết hợp đó một cách sáng tạo, hay là khả năng giao tiếp bằng tiếng nói, là những món quà vô giá đã ban cho loài người một khả năng phát triển tột cùng, không còn bị giới hạn bởi cấu tạo sinh học hay bản năng sinh lý. Khả năng phát triển ấy được biểu hiện rõ rệt qua các truyền thống, tổ chức và thể chế xã hội; qua tôn giáo, thờ cúng, tính ngưỡng; qua văn học và các tác phẩm nghệ thuật; qua các thành tựu khoa học và kỹ thuật; và qua triết học. Điều này lý giải cách mà con người lại có thể tự tạo ra ảnh hưởng lên chính cuộc đời mình qua hành động của chính mình và qua quá trình suy nghĩ có ý thức và mong muốn được đóng một vai trò nào đó một cách chủ động – chứ không hoàn toàn thụ động vào tâm sinh lý.

Con người, thông qua di truyền, được sắp đặt sẵn theo một cấu trúc sinh học nhất định, cố định và gần như không thể thay đổi ngay từ khi sinh ra (màu da, giới tính, thể trạng hay thậm chí là bệnh di truyền), kể cả những bản năng và ham muốn tự nhiên như sinh tồn hay dục vọng. Thêm nữa, trong suốt vòng đời của mình, con người còn được nhào nặn tiếp bởi những cấu trúc văn hóa của xã hội qua giao tiếp và các loại ảnh hưởng khác. Chính cấu trúc văn hóa này, dù có thể thay đổi qua thời gian, rốt cuộc vẫn có quyết định vô cùng lớn đối với mối quan hệ giữa người đó với xã hội. Nhân chủng học hiện đại, qua các cuộc điều tra có tính so sánh giữa những văn hóa nguyên thủy với nhau, đã cho ta thấy rằng hành vi xã hội của loài người có thể khác xa nhau hoàn toàn, tùy vào kiểu mẫu văn hóa, cách tổ chức xã hội và quan trọng hơn hết là phương thức sản xuất xã hội trong từng địa phương và thời điểm. Đây là cơ sở cho những người đang cố gắng cải thiện được số phận nhân loại nuôi được hy vọng: con người không hề bị giam cầm trong giới hạn sinh lý của mình, và những giới hạn đó không hề sắp đặt số phận của họ phải than xin lòng từ bi mới sống sót được hay xóa sổ lẫn nhau trong một cuộc tranh dành quyền lực của cải đẫm máu – như tình hình hiện tại có thể gợi cho nhiều người, bao gồm ông khách tôi kể trên, phải mường tượng.

Nếu ta tự hỏi, cấu trúc xã hội và thái độ văn hóa của loài người nên thay đổi như thế nào sao cho cuộc sống loài người mới đủ tốt để ta ngừng cấu xé lẫn nhau, để ai cũng có cơm ăn áo mặc và được thể hiện bản thân, trước hết ta phải luôn ý thức được sự thật hiển nhiên rằng có những thứ nhất định chẳng thể nào thay đổi được. Như đã được nhắc đến ở trên, những đặc tính sinh học của loài người, nếu ta thực tế và thực dụng, là cái không thể thay đổi được. [Mà kể cả khi khoa học biến đổi gen có đủ phát triển để làm điều đó, thực sự nó đáng giá bao nhiêu khi quyền sử dụng sẽ luôn bị giới hạn trong tay số ít nếu cấu trúc kinh tế xã hội này tiếp diễn, và dù thế nào cũng sẽ không thể tự nó giải quyết được các vấn đề ở tầm xã hội? (Chú thích của dịch giả.)] Hơn nữa, những sự phát triển về công nghệ và nhân khẩu học trong vài thế kỷ gần đây (về vận chuyển, liên lạc, tự động hóa trong sản xuất, kỹ thuật số, thuốc men, kiểm soát sinh đẻ, di truyền học, vật lý lượng tử, tâm lý học, khoa học kinh tế và xã hội, v.v.) đã tạo ra những điều kiện sống không thể bị đảo ngược lại. Khi phần lớn dân số thế giới càng ngày càng phải tập trung vào những thành thị vô cùng đông đúc bởi tác động của phương thức sản xuất hiện tại, sự phân công lao động đến từng chi tiết nhỏ nhất cũng như một bộ máy sản xuất tập trung cao độ khổng lồ là hoàn toàn cần thiết. Khoảng thời gian bình dị khi xưa, lúc những cá nhân hay các nhóm tương đối nhỏ vẫn có thể hoàn toàn tự túc, đã xa rời vĩnh viễn. Sẽ không phải phóng đại nếu nói rằng ngay từ bây giờ, nhân loại đã dựng lên trên toàn thế giới một “cộng đồng” sản xuất và tiêu thụ khổng lồ - một thị trường toàn cầu nơi ai không tham gia sẽ bị diệt vong.

Giờ đây, dường như tôi đã đủ lý lẽ để chỉ ra ngắn gọn cái mà tôi cho rằng tạo nên bản chất của cuộc khủng hoảng khổng lồ thời đại chúng ta. Nó liên quan đến mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội. Cá nhân đã trở nên ý thức hơn bao giờ hết việc mình phải dựa vào xã hội. Nhưng họ lại không coi việc này như một thứ tích cực mà lại coi như một mối đe dọa tới quyền lợi tự nhiên hay thậm chí sự tồn tại kinh tế của họ. Hơn nữa, vị trí của cá nhân trong xã hội làm nổi bật cái “ý chí ích kỷ” của mình trong khi cái “ý chí xã hội”, vốn đã yếu thế hơn, càng ngày càng bị lu mờ và tha hóa đi. Mỗi người, dù ở bất cứ vị thế nào trong xã hội, đều phải chịu đựng sự tha hóa này. Họ dần đóng chặt xiềng xích mình trong nhà lao của sự ích kỷ, dù vô thức, và họ thấy bất an, cô đơn và bị tước đoạt đi khả năng hưởng thụ cuộc đời một cách ngây thơ, đơn giản và không vụ lợi. Con người chỉ có thể tìm thấy ý nghĩa cuộc sống, dù nó có ngắn ngủi hay nguy hiểm tới đâu, bằng cách cống hiến bản thân cho xã hội.

Hệ thống kinh tế vô tổ chức và vô tội vạ của xã hội tư bản ngày nay, theo quan điểm của tôi, là nguồn cơn thực sự của mọi cái ác. Chúng ta thấy trước mắt, trong “cộng đồng” sản xuất này, một số ít có quyền lực nhưng không lao động đang tìm mọi cách để cưỡng đoạt lấy quả ngọt của lao động tập thể từ tay số đông, những người dù không tiền không quyền, mới là người lao động – không bằng cưỡng lực, mà bằng những niềm tin trung thành của cả kẻ trị lẫn kẻ bị trị vào những luật lệ được thành lập một cách “hợp pháp” tuyệt đối. Về mặt này, ta phải nhận thấy rằng toàn bộ tư liệu sản xuất của xã hội – ấy là, toàn bộ vốn, nguyên vật liệu, đất đai và sức lao động cần thiết để sản xuất sản phẩm tiêu dùng cho toàn bộ xã hội cũng như tư liệu sản xuất bổ sung – đều đang nằm gọn trong tay của số ít những người quyền lực ấy một cách hợp pháp, như tài sản riêng của họ, tài sản mà ta gọi là tư hữu.

Để đơn giản hóa vấn đề, từ giờ tôi sẽ gọi những người không sở hữu tư liệu sản xuất (vô sản) là “công nhân” – mặc dù đây không đúng hẳn với cách dùng thường nhật của từ này. Những người sở hữu tư liệu sản xuất, những người mà ta gọi là các nhà tư sản, đang trong vị thế mua sức lao động của công nhân. Bằng việc sử dụng tư liệu sản xuất, công nhân sẽ tạo ra sản phẩm; và sản phẩm này, thay vì đi vào tay người sản xuất ra nó là công nhân, sẽ trở thành tài sản riêng của nhà tư sản, trên cơ sở pháp lý là họ nắm giữ tư liệu sản xuất. Điểm quan trọng của quá trình này ở đây là mối quan hệ giữa cái mà người công nhân sản xuất và cái họ được trả, cả hai đều được đo theo giá trị thực. Trên điều kiện hợp đồng lao động “tự do”, cái mà công nhân được trả không hề tương ứng với giá trị thực sự của cái mà họ sản xuất, mà được quyết định bởi nhu cầu tối thiểu của họ để tiếp tục bán sức lao động (nếu mức lương không đủ để tiếp tục giữ chân công nhân – và lưu ý công nhân sẽ chấp nhận nhận lương ít nếu không còn sự lựa chọn nào ngoài chết đói – thì công ty sẽ có nguy cơ mất nhân công và không thay thế được nhân công đó; đồng thời công ty cũng muốn lợi nhuận càng nhiều càng tốt, nên mức lương luôn ở mức tối thiểu để thu lời và vừa đủ để không mất nhân công); cũng như bởi nhu cầu tìm kiếm sức lao động của các nhà tư sản tương đối với số người đang cạnh tranh cho vị trí của người công nhân (ít người tìm việc thì lương thấp, nhiều người thì lương cao). Điều quan trọng là phải hiểu ở đây là kể cả trên lý thuyết, khoản lương trả cho công nhân cũng không hề tương ứng với giá trị sản phẩm của họ sản xuất ra.

Vốn tư nhân có xu hướng tập trung vào vài thành phần càng ngày càng nhỏ hơn: việc cạnh tranh tự do bắt đầu bị thoái hóa khi một nhà cạnh tranh bắt đầu đạt được lợi thế, và khi đó việc muốn giữ vững vị thế sẽ dẫn đến việc muốn loại bỏ cạnh tranh, và sự lớn mạnh của những công ty này từ đó sẽ tăng theo cấp lũy thừa đến khi số người cạnh tranh chỉ còn đếm trên đầu ngón tay; cạnh tranh tự do đã biến mất không một dấu vết và một số ít các công ty, xí nghiệp và ngân hàng lớn nhất độc quyền hoàn toàn thị trường. Kết quả của sự “phát triển” này là sự chuyên chính hoàn toàn của các tên trùm nắm giữ nhiều vốn tư nhân nhất (qua việc nắm giữ cổ phần trong những ngân hàng lớn, những ngân hàng này lại cũng nắm giữ cổ phần của những công ty lớn, rồi lại đến vô số các công ty con – tức là một số ít có thể kiểm soát gián tiếp toàn bộ ngành công nghiệp), và từ đó nắm giữ vô vàn quyền lực chính trị khó có thể kiểm soát hay kiềm chế được kể cả bởi một xã hội chính trị được tổ chức một cách dân chủ. Điều này đúng bởi lẽ thành viên của các cơ quan lập pháp được bầu ra hay ủy nhiệm bởi các đảng phái chính trị phần lớn được tài trợ tài chính hoặc chịu ảnh hưởng nói chung bởi các nhà tư sản lớn này; tức một sự tách biệt cử tri khỏi cơ quan lập pháp. Hệ quả là những cơ quan đại diện của nhân dân trên thực tế còn chẳng thể bảo vệ quyền lợi của những người yếu thế - tức phần đông giai cấp công nhân – một cách thỏa mãn, mặc cho những lời tự tán dương “bình đẳng”, “dân chủ”, “tự do”, “bác ái”, “thịnh vượng” hay “của dân do dân vì dân” của giai cấp thống trị. Hơn nữa, dưới những điều kiện hiện nay, những phương tiện thông tin (báo đài hay giáo dục) sẽ phải chịu sự điều hành chuyên quyền của những vốn tư nhân, dù là trực hay gián tiếp. Vì thế, sẽ rất khó, và thực sự phần lớn các trường hợp bất khả thi, cho mỗi công dân có thể đi tới những kết luận hay chính kiến thực sự khách quan về thế giới và xã hội xung quanh cũng như dùng quyền lợi chính trị của mình một cách có lý.

Từ những ý trên, ta có thể kết luận rằng tình hình chung luôn thường trực trong một nền kinh tế dựa trên quyền sở hữu tư nhân của tư liệu sản xuất có thể hiểu qua hai nguyên tắc: trước hết, tư liệu sản xuất (tư bản) được tư hữu hóa và người sở hữu nó luôn có thể loại bỏ nó đi khi họ tùy thích; thứ hai, hợp đồng lao động luôn “tự do”. Dĩ nhiên, không có thứ gọi là xã hội tư sản thuần túy theo nghĩa này cả. Hơn hết cần ghi nhận rằng giai cấp công nhân, qua các cuộc đấu tranh chính trị dài hơi và cay đắng, đã thành công trong việc cải thiện tình trạng “hợp đồng lao động tự do” cho vài loại công nhân trong những ngành nghề nhất định. Nhưng nhìn nhận theo nghĩa toàn thể, nền kinh tế ngày nay cũng chẳng khác mấy với tư sản “thuần túy” cả.

Sản xuất được tiến hành là vì lợi nhuận, không phải vì dụng ích của sản phẩm. Không có điều khoản nào chỉ định rằng những người có khả năng và sẵn sàng lao động sẽ luôn có thể tìm được việc cả; một “lực lượng thất nghiệp” luôn tồn tại. Công nhân luôn trong tình trạng lo sợ rồi sẽ có ngày mất việc. Bởi lẽ công nhân thất nghiệp hay ăn lương thấp không thể tạo ra một thị trường tiêu thụ tiềm năng, nhất là trong những thời điểm hay địa phương còn khó khăn, nên sản xuất sẽ dần bị thu hẹp khi các công ty đối diện với nguy cơ bị phá sản, và hệ lụy chỉ có thể là khó khăn cùng cực. Tiến bộ về khoa học công nghệ tạo ra thất nghiệp càng ngày càng tràn lan thay vì dỡ bỏ một phần gánh nặng cho mọi người. Cái động lực lợi nhuận này, kết hợp với sự cạnh tranh khốc liệt (nhưng không hề tự do) trên thị trường giữa các nhà tư sản, chịu trách nhiệm cho sự bất ổn định trong tích lũy và tận dụng vốn tư bản, việc này dẫn tới “dịch bệnh” trầm cảm ngày cảng trầm trọng. Cạnh tranh vô tổ chức, vô tội vạ dẫn tới một sự lãng phí lao động vô cùng lớn, cũng như dẫn tới sự xói mòn ý thức xã hội của cá nhân, một vấn đề tôi đã kể đến từ trước.

Ở mặt khác, mặc dù có một phần lớn công nhân thất nghiệp hay ăn lương thấp khó có thể tự tạo ra một thị trường tiêu thụ tiềm năng, sản xuất vẫn cứ được đầu tư liên tục đến khi hàng hóa đã thừa mứa kinh khủng, nhất là trong những thời điểm hay địa phương thuận lợi. Để giải quyết mớ này, một số thành phần khá giả hơn của giai cấp công nhân đủ sức mua, một thành phần chỉ có thể tồn tại nơi hàng hóa bị thừa mứa nhưng không dẫn tới khủng hoảng, sẽ bị ngành công nghiệp marketing quay cuồng chóng mặt đến điên dại bởi những phương thức quảng cáo dụ dỗ họ tiêu thụ mớ sản phẩm thừa mứa kia. Hệ quả của việc này là việc tiêu thụ dần tha hóa chính bản chất con người và mối quan hệ giữa người với nhau, tiêu thụ trở thành nhu cầu lớn nhất của cuộc sống chứ không phải thể hiện bản thân hay cải thiện cuộc sống theo một cách có ý nghĩa nào. Con người, nhất là ở những nước phát triển, đã thay thế mọi trải nghiệm được sống trực tiếp bằng món hàng tiêu thụ, những món hàng luôn được bán với lời mời “sản phẩm này sẽ thay đổi cuộc đời bạn” hay “làm bạn hạnh phúc”. Giá trị thật của mọi thứ, từ món hàng đến chính nhân phẩm ta, bị thay thế bởi vẻ bề ngoài và giá tiền: cái gì tốt thì sẽ bán chạy, cái gì bán chạy chắc chắn phải tốt.

Sự tha hóa, thoái hóa về mọi mặt của cá nhân ở mọi hoàn cảnh, dù là các công nhân lao động oằn lưng ở các nước thuộc địa hay cả ở các gia đình trung lưu ở châu Âu, chính là cái mà tôi cho rằng tà ác nhất của tư bản chủ nghĩa. Toàn bộ hệ thống giáo dục của ta phải cam chịu sự tà ác này. Thái độ cạnh tranh thái quá bị ghi khắc vào thâm tâm học sinh, những đứa trẻ được huấn luyện để tôn sùng chủ nghĩa thành đạt hám lợi như thể hành trang cho tương lai của chúng.

Tôi tin rằng chỉ có duy nhất một cách diệt trừ những tà ác ấy, đó là việc thành lập một nền kinh tế chủ nghĩa xã hội, đi cùng là một hệ thống giáo dục định hướng tới những mục đích chung của cả xã hội. Trong nền kinh tế ấy, toàn bộ tư liệu sản xuất sẽ được sở hữu bởi toàn bộ tổng thể xã hội và được sử dụng một cách có quy hoạch cho toàn bộ xã hội đó, không phải là túi tiền của một vài người. Một nền kinh tế có quy hoạch, tức cái mà điều chỉnh sự sản xuất hướng tới nhu cầu cộng đồng, sẽ phân chia việc làm cho tất cả những người có thể làm việc và đảm bảo kế sinh nhai cho mọi đàn ông, phụ nữ và trẻ em, cả những người có thể và không thể làm. Việc giáo dục cá nhân, ngoài tạo ra điều kiện cho sự phát triển khả năng bẩm sinh, sẽ cố gắng phát triển ở học sinh một tinh thần trách nhiệm với đồng loại thay vì tôn sùng quyền lực và thành công như trong xã hội của ta hiện tại.

Tuy nhiên, cần thiết phải nhớ rằng một nền công nghiệp có quy hoạch thì lại chưa hẳn là chủ nghĩa xã hội. Một nền công nghiệp có quy hoạch như ta thấy ở nhiều nước tự xưng là “chủ nghĩa xã hội” có thể được đi kèm bởi sự nô dịch của cá nhân, không phải cho xã hội, mà là bởi nhà nước, bởi bộ máy quan liêu. Cái mà chủ nghĩa xã hội cần là giải pháp cho những vấn đề chính trị-xã hội vô cùng phức tạp: làm thế nào để ta sắp xếp được một nền kinh tế quy hoạch hóa trong khi hạn chế tối đa, nếu không thể ngăn ngừa hoàn toàn được (nhất là trong giai đoạn đầu khó khăn) một sự tập trung quyền lực chính trị và kinh tế trong tay một bộ máy quan liêu khổng lồ, độc tài và chuyên quyền? Làm thế nào mà quyền lợi của mỗi cá nhân có thể được bảo toàn và thêm nữa là một nền dân chủ đối trọng lại quyền lực của chế độ quan liêu có thể được bảo vệ và bảo toàn?

Làm rõ mục tiêu và vấn đề của chủ nghĩa xã hội có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với thời đại mang tính chuyển đổi của chúng ta. Bởi lẽ, với tình cảnh hiện tại, khi một cuộc thảo luận tự do và rành mạch về những vấn đề kiểu này dường như đang bị ta kiêng như kiêng húy, tôi cho rằng việc thành lập tạp chí này (Monthly Review) thật sự là một thành công to lớn và là một dịch vụ công quan trọng.

Nhận xét

bài khác