FOUCAULT
Hình minh họa Michel Foucault đi kèm với dòng chữ "Đây không phải Michel Foucault", ám chỉ tới bức tranh "Sự phản bội của hình ảnh" của René Magritte từng được Foucault phân tích.
Michel Foucault (1926-1984) là một triết gia, nhà nghiên cứu lịch sử và xã hội học người Pháp, một trong những nhà tư tưởng có tầm ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới (hàn lâm) kể từ cuối thế kỷ 20. Ông thường được coi như một trong những gương mặt đại diện cho trường phái hậu cấu trúc (post-structuralism), tuy nhiên bản thân ông, như bao nhà ‘hậu cấu trúc' khác, đều phản đối cách sử dụng của tên gọi này. Foucault nổi/khét tiếng với những việc như đầu trọc như villain trong phim James Bond, viết khó hiểu, xài ngôn ngữ kỳ lạ, thích con trai, hoạt động nhân quyền, “cái gì cũng nhìn giống nhà tù", với dính nhiều scandal tình dục.
Về chuyên môn ông cũng gây tranh cãi không kém. Ông bị buộc tội cho rằng sự thật là tương đối, rằng mọi thứ đều quy về tranh chấp quyền lực lợi ích, phủ nhận tác năng của chủ thể (nói cách khác là ý chí tự do),... Ông cũng gây chia rẽ về mặt chính trị. Phía cánh hữu bảo thủ, ông bị bêu rếu bởi một tác giả self-help người Canada nổi tiếng nào đó cùng đám fan của ổng vì “chống phá các giá trị của nền văn minh phương Tây”; trong khi ở phía cánh tả, ông lại bị Jean-Paul Sartre buộc tội làm “tuyến phòng thủ cuối cùng của giai cấp tư sản", dù Foucault và Sartre thường xuyên sát cánh bên nhau trong các phong trào cấp tiến như chống phân biệt chủng tộc hay bãi bỏ án tử hình.
Foucault là một nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn nhưng cũng vì thể mà đã sinh ra những hiểu nhầm hay phóng đại không đáng có, dù dĩ nhiên những hiểu nhầm không bao giờ là không có ít nhiều cơ sở. Tôi cho rằng ta cần có một cái nhìn nghiêm túc hơn đối với Foucault, không chỉ là để đánh giá ông công bằng hơn. Đối với tôi, những ý tưởng và lý thuyết đột phá của Foucault, mặc cho những hạn chế của chúng, rất đáng học hỏi bởi chúng tạo ra những khả năng và hướng đi mới quan trọng không chỉ trong khuôn khổ nghiên cứu lý thuyết hàn lâm mà còn trong cách ta nhận thức và hành động trong thế giới.
1. NGÔN NGỮ VÀ TRI THỨC
Trong đời sống hàng ngày của chúng ta, việc giao tiếp giữa người và người là không thể thiếu. Ngôn ngữ giúp ta kết nối với người thân và bạn bè, hợp tác để hoàn thành các công việc và dự án, tiếp thu các kiến thức và thông tin mới, hay đưa ra ý kiến và dự định của bản thân. Ngôn ngữ được xem như công cụ để giao tiếp, và giao tiếp được xem như công cụ của đời sống xã hội.
Nhưng đối với Foucault, cách ta hiểu về thế giới quanh ta và suy nghĩ về nó phụ thuộc ít nhiều vào ngôn ngữ ta sử dụng. Ngôn ngữ không chỉ là một công cụ giao tiếp, nó còn định hình cách ta suy nghĩ, tiếp nhận thế giới bên ngoài, và thậm chí là hiểu về danh tính của bản thân và vị trí của mình trong thế giới (ông gọi là tính chủ thể - subjectivity). Ta tái cấu trúc lại thế giới trong tâm trí bằng cách gom những hiện tượng cụ thể lại bằng những khái niệm, và ta liên kết giữa những khái niệm ấy để tạo ra một bức tranh toàn cảnh hơn. Ví dụ, ta có thể quan sát nhiều đồ vật vô cùng khác nhau với điểm chung là có với độ lớn vừa phải cũng như một độ dễ chịu nhất định để ngồi vào, và qua ngôn ngữ ta có thể quy lại những đồ vật ấy thành khái niệm “cái ghế”. Qua khái niệm này ta không chỉ tạo ra một sự biểu trưng nhất định cho một đồ vật, mà còn sử dụng nó để diễn tả mối quan hệ chung với thế giới: bàn thì đi với ‘ghế', mệt thì phải ngồi vào ‘ghế' cho lịch sự chứ không phải nằm đại xuống đất, etc.
Nhưng điều này không chỉ dừng lại ở những đồ vật cơ bản. Quan trọng hơn là những khái niệm trừu tượng: ‘hôn nhân', ‘chiến tranh', ‘tự do', ‘nợ’, ‘giới tính', ‘học tập', ‘kính trọng', ‘cộng đồng', 'dân tộc', ‘tội ác’, ‘trừng phạt', ‘tâm hồn',... Qua việc bao gọn lại những hiện tượng trên thế giới, đời sống hàng ngày và những suy nghĩ thành các biểu tượng ngôn từ có ý nghĩa chuẩn xác, con người có khả năng thu gọn lại thế giới, hiểu nó, miêu tả và tưởng tượng ra nó, cũng như hình thành những suy nghĩ phức tạp và trừu tượng. Nên nhớ, những bộ khái niệm này không hề phổ quát khắp thế giới hay lịch sử, chúng không nghiễm nhiên tồn tại mà có sự phát triển qua thời gian, được ảnh hưởng bởi những yếu tố vật chất, xã hội, văn hóa và chính trị. Và những khái niệm này không chỉ là những công cụ để miêu tả thế này thế kia, chúng còn hàm chứa những giá trị chủ quan để đánh giá thế giới. Một bộ khái niệm liên kết một cách có hệ thống với nhau tạo thành một bức tranh, một lăng kính diễn giải, đánh giá và hành động lên thực tại.
Hơn nữa, những khái niệm đó không chỉ là một lăng kính bị động, mà xuyên suốt là những tự sự, những câu chuyện, những mạch các khái niệm và ý tưởng liên kết với nhau để đưa ra một bức tranh mang tính miêu tả sắp xếp cũng như luân lý. Những tự sự về cách sắp xếp của xã hội, về những quy luật luân lý, về tiến trình của lịch sử và tương lai; rồi là những tự sự về giới. giai cấp hay chủng tộc, những tự sự về tội phạm, người tâm thần; hay những tự sự về đời sống hàng ngày như công việc, học tập, thành đạt, yêu đương, phụng dưỡng cha mẹ, đóng góp cho xã hội; và dĩ nhiên là những tự sự chính trị. Tự sự không phải câu chuyện bình thường có đầu có đuôi, có nhân vật, cốt truyện và tình tiết. Một tự sự giống như một câu chuyện của những khái niệm trừu tượng hơn. “Phụ nữ thuộc về nhà bếp và có trách nhiệm sinh con đẻ cái cho đàn ông", đó là một tự sự của chế độ phụ quyền; “người da đen là chủng tộc thấp kém hơn và không xứng đáng được quyền con người và sẽ phục vụ cho những chủ nhân da trắng", là một tự sự của chế độ phân biệt chủng tộc. “Chúng ta nên xóa bỏ đói nghèo, giúp các nước lạc hậu phát triển và hội nhập, và tạo ra một thế giới công bằng" cũng có thể coi là một tự sự của Liên Hiệp Quốc, hay “ta nên học tập thật giỏi để học đại học, để kiếm một công việc lương cao, làm giàu và để thành đạt trong xã hội" là một tự sự của giấc mơ nhân tài trị.
Những tự sự kiểu này luôn bắt đầu từ những khái niệm, những lời khẳng định mà nó cho là khách quan về thế giới (‘nghèo đói' là không tốt, ‘phụ nữ' là kém cỏi, ‘tài năng’ và ‘chăm chỉ' được đền đáp xứng đáng); và nó tiếp tục bằng câu ‘nên', những câu mệnh lệnh, những lời đánh giá tốt/xấu. Khoa học thậm chí không thể thoát được những tự sự, nhất là những ngành khoa học xã hội hay khoa học ứng dụng. Như Foucault cho thấy trong tác phẩm Madness and Civilisation, cách ngành y và tâm lý trị liệu nhìn nhận, chẩn đoán hay ‘chữa trị' những người có bệnh lý hay khác biệt về tâm thần không phải là một sự thật khách quan đơn thuần, mà là một sản phẩm của những định kiến, thế giới quan, những khái niệm và tự sự mang tính văn hóa và lịch sử.
Nói chung, những khái niệm, giá trị, tự sự, ý tưởng, quan niệm, niềm tin, thế giới quan… Foucault gọi chung là tri thức. Ngôn ngữ vừa là hình thức mà qua đó tri thức và thế giới quan được thể hiện, nhưng đồng thời ngôn ngữ cũng là điều kiện của tri thức, giới hạn của ngôn ngữ chính là giới hạn xấp xỉ của tri thức. Dĩ nhiên, ta có thể có những cảm quan và suy nghĩ trong tiềm thức độc lập ít nhiều khỏi ngôn ngữ, nhưng để cho cảm quan và suy nghĩ đó được biểu hiện cụ thể và cặn kẽ, hiện thân ở ý thức và lưu thông trong xã hội, chúng ắt phải được thể hiện qua ngôn ngữ. Nhưng không chỉ có một ‘ngôn ngữ’ nói chung, mà có vô kể. Ở đây tôi không nói tới những thứ tiếng khác nhau, mà là cách ngôn ngữ định hình tri thức, cũng như cách mà những tri thức đó được thể hiện trên thực tế qua hành động và tập tính. Ở đây tôi gọi cụ thể là diễn ngôn. Diễn ngôn không phải là tập hợp các tri thức, nó là cách tiếp cận tri thức; nó không phải là tập hợp các sự thật, nó là tập hợp những nguyên vật liệu để tạo ra sự thật; nó không phải là những chỉ thị, nó là những khuôn khổ xung quanh các cuộc bàn luận.
2. DIỄN NGÔN
Các diễn ngôn, dù là cách con người nhìn ra, đánh giá thế giới và hành động trong nó, mang tính chủ quan; và tính chủ quan này bắt nguồn từ điều kiện sinh ra các diễn ngôn, những yếu tố xã hội, kinh tế, văn hóa, lịch sử. Có vô kể những diễn ngôn khác nhau, không ngừng biến chuyển, va chạm và mâu thuẫn với nhau. Nếu một diễn ngôn nhất định hạn chế tri thức bởi những giới hạn về khái niệm và tự sự của nó, thì những diễn ngôn khác có thể vượt qua hạn chế này và mở rộng tri thức bởi sự khác biệt về khái niệm và tự sự; hoặc thậm chí hai diễn ngôn riêng biệt có thể hoàn toàn mâu thuẫn lẫn nhau.
Ví dụ, nhà nhân học Arturo Escobar trong quyển Encountering Development khi nghiên cứu về những dự án và chương trình ‘phát triển kinh tế xã hội' ở các nước Mỹ Latinh nhấn mạnh tính diễn ngôn của những hiện tượng này. Qua việc nghiên cứu về những chương trình phát triển nông thôn và hội nhập kinh tế, những chính sách về lương thực thực phẩm, y tế và giáo dục, hay ở tầm vĩ mô hơn là những dự án quốc tế về hỗ trợ tài chính, quan hệ thương mại hay phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển… ông trình bày rằng những dự án và chương trình này cấu thành một diễn ngôn về ‘sự phát triển', và rằng diễn ngôn này chứa đựng những giá trị và giả định của chủ nghĩa tư bản phương Tây. Diễn ngôn này không chỉ là những diễn văn hay tuyên truyền của giới cầm quyền, mà còn được sản xuất ra trong những trường đại học và viện nghiên cứu, qua những báo cáo kinh tế, những bản thảo chính sách, hay những nghiên cứu nhân khẩu học về cơ cấu dân số, tình trạng sức khỏe, mức thu nhập và tiêu dùng,... Những tri thức này có thể mang tính khoa học và khách quan, những nhà khoa học và lập pháp có thể tự do tranh luận và bàn tán về bản chất của vấn đề hay hướng giải quyết. Tuy nhiên như đã nói, diễn ngôn chính là giới hạn của các cuộc bàn luận; ở sâu phía sau những tri thức này các nhà khoa học và chính trị gia vẫn bị kẹt trong khuôn khổ của những khái niệm và giá trị được giả định sẵn, diễn ngôn “phát triển" - cụ thể hơn là ý nghĩa của khái niệm "phát triển" đối với họ, đối lập với cái mà họ cho là "kém phát triển".
Nhưng quá trình sản xuất tri thức của diễn ngôn không chỉ dừng lại ở việc phác họa thế giới khách quan; nó còn bao gồm những kế hoạch, những đánh giá tốt/xấu, những cái ‘nên' (normative claims). Diễn ngôn phát triển cho rằng việc công nghiệp hóa và hội nhập vào thị trường toàn cầu, cộng với việc áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ, sẽ cải thiện những vùng đất và dân tộc ‘lạc hậu’ hay ‘kém phát triển'. Đáng chú ý là việc diễn ngôn về phát triển phác họa những vùng đất và dân tộc bản địa này như là ‘lạc hậu' và ‘kém phát triển', không khác cách diễn ngôn thuộc địa của thế kỷ trước phác họa những dân tộc này là ‘thiếu văn minh' là mấy. Những chính trị gia và nhà khoa học phương Tây sử dụng những hệ giá trị của mình để đánh giá tình trạng của những cư dân bản địa trong khi bỏ qua những hệ giá trị, những thế giới quan và diễn ngôn của những người này. Diễn ngôn của các chính trị gia nói về công nghiệp hóa hiện đại hóa, phát triển kinh tế, năng suất lao động, khai thác tài nguyên thiên nhiên hay lợi ích quốc gia khác biệt và thậm chí là đối lập với diễn ngôn của những người nông dân bản địa về cộng đồng, gia đình, tương trợ, tự cung tự cấp, về thiên nhiên, về công việc trên đồng ruộng và chăn nuôi, về lẽ phải trái, phong tục tập quán hay tín ngưỡng thờ tụng. Điều này được phác họa rõ nét qua việc những dự án phát triển kinh tế xã hội này thường xuyên không đạt được mục tiêu đề ra đó là cải thiện đời sống nhân dân, trong khi nếp sống của người dân bị đảo lộn và tàn phá và càng ngày càng bị phụ thuộc vào thị trường cũng như là sự quản lý bởi nhà nước.
Những diễn ngôn và thể chế quyền lực về "sự phát triển" đã thay đổi và làm đảo lộn đời sống của nhiều người dân Colombia và nhiều nước "đang phát triển" khác trên thế giới
Ở đây ta thấy một sự va chạm giữa những diễn ngôn khác nhau với những giá trị và tự sự vô cùng khác nhau; hơn nữa hình thức của cuộc va chạm này tương đồng với một sự mâu thuẫn về quyền lực. Diễn ngôn của sự phát triển được áp đặt bởi những cơ chế quyền lực và cưỡng ép (lực lượng an ninh, những thể chế chính trị hay truyền thông), và đồng thời được thực hiện hóa và cụ thể hóa qua những chính sách và chương trình cũng bởi nhờ những cơ chế quyền lực đó. Những chính sách này dù không đạt được mục đích ‘nhân đạo’ được chính thức đề ra, nhưng lại thành công trong việc thiết đặt sự kiểm soát của những cơ chế quyền lực này. Những người nông dân, trước đây sống trong những cộng đồng tương đối độc lập, tự chủ, tự cung tự cấp, giờ đây phụ thuộc vào thị trường để sinh sống (họ buộc phải tái cơ cấu hoạt động sản xuất nông nghiệp và bán đi sản phẩm để kiếm lãi, họ bị đẩy vào những thành phố để làm thuê thay vì sống tự cung tự cấp, và họ buộc phải mua những nhu yếu phẩm trên thị trường), cũng như phải chịu sự thống trị và kiểm soát ngày càng dấn sâu của chính quyền.
Điều này thể hiện một khía cạnh quan trọng khác của các diễn ngôn: chúng có quan hệ mật thiết với quyền lực. Các diễn ngôn biện minh cho những mối quan hệ quyền lực xã hội bằng cách cấu tạo nên và củng cố những sự thật, những ý kiến, thái độ và hành động có lợi cho việc giữ vững những mối quan hệ quyền lực ấy. Quyền lực được thiết đặt qua việc củng cố những diễn ngôn nó cần và loại trừ những diễn ngôn đe dọa tính chính danh của nó. Nghe việc “quyền lực tạo ra sự thật” có thể làm ta nhớ tới sự thao túng sự thật một cách có chủ đích và tuyên truyền như trong quyển 1984 của George Orwell, nhưng cách hiểu này không đúng đối với khái niệm diễn ngôn của Foucault. Trong khi Big Brother của 1984 kiểm soát sự thật bằng cách chỉ định chính xác sự thật là gì, thì đối với Foucault, các diễn ngôn xác định giới hạn và khuôn khổ mà trong đó bất kỳ tri thức nào đều có thể sinh ra, thậm chí là những cuộc tranh luận và bàn tán đều có thể diễn ra tự do, miễn là nó nằm trong khuôn khổ của diễn ngôn.
Các diễn ngôn không chỉ định chính xác sự thật chi tiết là gì; nó chỉ định những chủ đề nào nên được bàn, bàn ở đâu, khi nào và bằng cách nào, cũng như ai được phép bàn, được phép nêu ra ý kiến. Những giới hạn này không được thiết lập một cách ý thức và chủ động, mà bắt rễ trong những giả định và quy luật ngầm trong tiềm thức, trong các tập quán và truyền thống. Và vai trò của chúng chính là củng cố sự tồn tại và tính chính danh của các mối quan hệ quyền lực nói chung, bất luận hình thức của các mối quan hệ đó hay phe phái cụ thể nào nắm giữ quyền lực. Đây là cái mà Foucault gọi là “quyền lực-tri thức”: tri thức vừa là phát minh của quyền lực, vừa là thứ tạo ra và thiết đặt quyền lực. Sau mỗi thế giới quan, mỗi khái niệm, mỗi tự sự, mỗi lý thuyết là những mối quan hệ quyền lực, những cơ chế và thể chế thiết đặt quyền lực đó. Quyền lực là sự sắp xếp đúng đắn của mọi vật.
Vậy vì sao lại quyền lực? Những tác phẩm của Foucault thường bị chỉ trích vì quá yếm thế, bi quan và cực đoan khi gán ghép tất cả mọi thứ vào quyền lực, dù là những thứ đơn giản hàng ngày hay thậm chí là những thứ mà ta hay cho là tiến bộ nhất. Điểm này tôi sẽ đi sâu sau. Tuy nhiên, để đưa ra một nhận định đúng hơn về điều này, ta cần phải hiểu cặn kẽ ý nghĩa của ‘quyền lực' đối với Foucault - và ý nghĩa này có những khác biệt nhất định so với cách ta thường hay nghĩ về quyền lực.
3. QUYỀN LỰC
Quyền lực không chỉ là một ‘thứ' mà ta sở hữu, nó là một mối quan hệ giữa chủ thể của quyền lực (kẻ nắm quyền) và đối tượng của quyền lực. Bản chất của mối quan hệ quyền lực đó có thể giữ nguyên và được củng cố cho dù chủ thể quyền lực có thể thay đổi. Bởi vậy, quyền lực không chỉ là quyền lực tập trung của giai cấp, nhà nước hay quốc gia thống trị. Trái lại, những mối quan hệ quyền lực hiện hữu xuyên suốt ở mọi khía cạnh ngóc ngách của đời sống xã hội; chúng được duy trì và thể hiện không chỉ qua bạo lực và cưỡng bức, mà còn qua các tập tính, ý thức, biểu tượng, truyền thống, giá trị, ngôn ngữ và tri thức. Thậm chí, ta có thể nói rằng đối với Foucault chủ thể quyền lực không hề quan trọng, nó vô danh và vô diện, nó lui biến đi trong những phân tích của ông, dù vẫn tồn tại; trong khi đó những mối quan hệ quyền lực hiện hữu khắp nơi. Khi đó, những mối quan hệ này tự chúng trở thành những thể chế bện sâu vào xã hội. Ta không chỉ nói về quyền lực của từng người đàn ông lên phụ nữ, ta nói về thể chế phụ quyền; ta không chỉ nói về quyền lực của những nhà tư sản lên xã hội, ta nói về những thể chế thị trường, thể chế kỷ luật (disciplinary); ta không nói về quyền lực của các cá nhân trong giai cấp thống trị phương Tây lên các nước thuộc địa hay các nước đang phát triển, ta nói về thể chế đế quốc hay thể chế phân biệt chủng tộc.
Hơn nữa, quyền lực không chỉ đơn giản là cưỡng bức, đàn áp và áp chế: vai trò này chỉ mang tính phòng ngự và bị động đối với một mối đe dọa. Trên thực tế, vai trò chủ đạo của quyền lực xuyên suốt và mạnh mẽ hơn nhiều. Qua những cơ chế và kỹ xảo phát tán và lan rộng, quyền lực chủ động trong việc nhào nặn các mối quan hệ xã hội, kiểm soát các hành động và di chuyển của các cơ thể (docile bodies), tạo ra các phổ trường tri thức (diễn ngôn), và thậm chí là cấu tạo nên những danh tính mà qua đó những cá nhân nhận thức về người khác và bản thân (subjectivity). Đối với Foucault điều này đặc biệt quan trọng trong thời hiện đại khi các cơ chế quyền lực đã dấn sâu hơn rất nhiều vào đời sống xã hội so với trước đây (ông hay gọi là discipline, biopolitics hay governmentality), và quyền lực bắt đầu được sử dụng theo một cách chiến lược hơn như trong chiến tranh, với các cấu trúc và quan hệ xã hội đóng vai trò như chiến trường. Clausewitz thì cho rằng chiến tranh là chính trị mở rộng, nhưng theo Foucault, “chính trị chính là chiến tranh mở rộng".
Mô hình nhà tù Panopticon. Trong tác phẩm Discipline and Punish, Foucault nghiên cứu cách mà hình thức mới của quyền lực - quyền lực kỷ luật - đã tác động lên mọi mặt đời sống và thay đổi cấu trúc cơ bản của xã hội. "Liệu có bất ngờ, rằng các nhà tù nhìn như nhà máy, trường học, doanh trại, bệnh viện, và rằng chúng đều nhìn như nhà tù?"
Đối với Foucault quyền lực luôn xuyên suốt và hiện hữu, mỗi một mối quan hệ quyền lực và tương tác giữa người và người đều là một mối quan hệ quyền lực. Người cha mẹ nuôi dạy con là một mối quan hệ quyền lực, người cảnh sát và thẩm phán trừng phạt một tên giết người để thực thi công lý cũng là quyền lực. Nhưng ông không phê phán hay đánh giá điều này, ý định của ông không phải là để loại bỏ quyền lực hoàn toàn để tạo ra một thế giới nơi ai cũng tự do tuyệt đối hay gì đấy. Tuy nhiên, Foucault nhấn mạnh rằng, ở đâu có quyền lực, ở đó có phản kháng; và đặc biệt là đối với những mối quan hệ quyền lực đã trở nên toàn trị toàn quyền, xuyên suốt và khô cứng thành các thể chế thống trị, sẽ luôn có và nên có những phản kháng, đấu tranh để liên tục xây dựng lại và làm mới các mối quan hệ xã hội. Bản thân Foucault cũng là một một nhà hoạt động chính trị và nhân quyền cấp tiến. Trong các tác phẩm của mình Foucault muốn phơi bày ra những thể chế quyền lực đã kìm kẹp và hạn chế thế giới theo ý muốn của nó; ông có thể không trực tiếp đưa ra những nhận định và đánh giá chủ quan, nhưng ngầm trong những dòng chữ của ông dường như là một thử thách đối với người đọc để vượt qua những thể chế quyền lực của thực trạng và phấn đấu vì điều gì đó tốt đẹp hơn.
4. QUYỀN LỰC-TRI THỨC VÀ LỊCH SỬ
Như ta đã thấy, cách tiếp cận của Foucault đối với việc nghiên cứu các hiện tượng xã hội xoay quạnh những điểm tương giao giữa quyền lực và tri thức. Những tác phẩm chủ chốt của ông chủ yếu là những khảo cứu về sự hình thành, phát triển và đổi thay qua dòng lịch sử của những thể chế quyền lực và của ý thức hệ và tri thức, cũng như mối quan hệ biện chứng giữa hai yếu tố này, tuy nhiên ông không phải là sử gia thông thường. Dù là bệnh tâm thần, y khoa, nhà tù, tính dục đến phương pháp luận các môn khoa học, Foucault không đơn thuần chỉ vạch ra những dòng sự kiện, những thay đổi tiểu tiết, những nhân vật lịch sử và những mốc thời gian. Foucault trình bày cách mà con người suy nghĩ, nhìn nhận về thế giới trong một khoảng thời gian trong quá khứ (tức những diễn ngôn và hệ thống nhận thức [episteme]); cách mà những thể chế và bộ máy quyền lực trong xã hội hoạt động dựa trên những lối tiếp cận tri thức đó; và cách mà những yếu tố này thay đổi qua thời gian. Khi một thể chế quyền lực thay đổi cách hoạt động của mình hoặc bị thay thế, đồng thời cách con người nhìn nhận về thế giới cũng đã thay đổi, và ngược lại. "Không có một mối quan hệ quyền lực nào mà không đi kèm sự hình thành của một trường (field) tri thức, cũng không có tri thức nào mà không giả định những mối quan hệ quyền lực."
Đáng chú ý Foucault thường không nói nhiều về lý do cho sự thay đổi kể trên. Một nhà Marxist có thể khẳng định rằng lý do cốt lõi cho bất kỳ chuyển biến nào trong xã hội chính là những thay đổi về cơ sở vật chất, phương thức sản xuất hay đấu tranh giai cấp. Tuy nhiên, trong những tác phẩm của mình Foucault chủ yếu chỉ tường thuật những chuyển biến đó là gì, ông chỉ tường thuật lịch sử của mối quan hệ giữa tri thức và quyền lực trong xã hội, chứ chỉ nói rất ít về những mối quan hệ nhân quả, và nếu có thì chỉ là những câu bên lề chứ không có những luận điểm hay lý thuyết.
Một khía cạnh quan trọng nữa đối với Foucault là ông không phác họa lịch sử như một mạch nối liền, dù là từ dưới lên trên (tiến bộ) hay ngược lại. Thay vào đó, lịch sử trong các quyển sách của ông như một bức tranh collage, có trình tự nhưng không nối liền và mạch lạc. Có những thay đổi và biến động nhưng khó mà có thể tìm được hướng đi cho lịch sử, lại càng không có sự ‘tiến bộ' rõ ràng nào. Trái lại, Foucault nhấn mạnh tính tương đối của lịch sử, ông không đưa ra bất kỳ sự đánh giá cá nhân nào về đạo đức hay lẽ phải.
Cụ thể hơn, khi ta thường nhìn vào những thay đổi về cách mà con người nhìn nhận thế giới (về khoa học, pháp lý, văn hóa hay chính trị…) ta thường cho rằng đây là những tiến bộ đơn tuyến: con người khoa học, logic hơn, nhân đạo hơn, và những tiến bộ về khoa học kĩ thuật sẽ cải thiện đời sống của mọi người. Tuy nhiên trong các tác phẩm của Foucault, những thay đổi về tri thức và nhận thức mà ta cho là tiên tiến, nhân đạo hơn rốt cuộc chỉ phản ánh và phục vụ những cơ chế quyền lực.
Ví dụ trong tác phẩm Discipline and Punish, Foucault nêu ra rằng từ thế kỷ 18 đã có những chuyển biến về cách ta nhìn nhận bản chất con người (rằng con người có quyền lợi, tâm lý con người được chú trọng hơn…) và từ đó là cách ta nhìn nhận việc trừng phạt tội ác: trừng phạt không còn là cách để trả thù và thị uy quyền lực của nhà vua như trước, giờ đây nó đóng một vai trò đạo đức, đó là việc cải tạo phạm nhân, phòng chống tội phạm và chấn chỉnh chuẩn mực đạo đức xã hội. Nghe có vẻ như là một tiến bộ, con người giờ trở nên nhân đạo và khoa học hơn. Tuy nhiên, diễn ngôn này cũng cho phép sự hình thành và dấn sâu của những cơ chế kiểm soát và áp đặt mới, sâu rộng hơn và toàn trị hơn. Đó là những thể chế quy huấn, những bộ máy và lực lượng giám sát an ninh, những cơ chế quan liêu,... những biện pháp mới của quyền lực mà Foucault gọi chung là “kỷ luật". Có thể sự trừng phạt phạm nhân thời phong kiến dã man và vô nhân đạo hơn thời hiện đại, nhưng thời hiện đại chứng kiến việc chính quyền và các cơ quan quyền lực khác dấn sâu và kiểm soát đời sống của con người hơn rất nhiều, mặc cho những tuyên bố về nhân đạo và nhân quyền. Nghe có vẻ bi quan và cực đoan nhưng nên nhớ Foucault không đưa ra những nhận định cá nhân, dù là tốt hay xấu; ông không đánh giá gì về điều này, dù giọng văn của ông nghe có vẻ phê phán.
Tóm lại, những kiến tạo xã hội đối với Foucault được cấu thành nên bởi những diễn ngôn và nhận thức luận, cũng như những hệ thống và mối quan hệ quyền lực liên kết mật thiết với các diễn ngôn đó. Tri thức và quyền lực là không thể tách rời và chúng luôn luôn chuyển biến và thay đổi theo dòng lịch sử, và những yếu tố này góp phần quan trọng vào việc định hình thế giới ta sống. Tôi cho rằng đây không chỉ là những khái niệm trừu tượng đơn thuần dành riêng cho nghiên cứu hàn lâm mà mang những ngụ ý thực tiễn quan trọng. Chúng cho ta cách tiếp cận để thử thách những mối quan hệ và thể chế quyền lực bất công đang bám rễ vào từng ngóc ngánh của đời sống, nghi vấn những giả định và diễn ngôn ngầm trong tiềm thức nhưng củng cố sự duy trị của những thể chế đó, và kêu gọi chúng ta mạnh dạn, táo bạo hơn để thực sự tạo ra những diễn ngôn và khái niệm mới và cấp tiến hơn, tạo tiền đề cho một cuộc đấu tranh mang tầm xã hội.
pontmercy
Nhận xét
Đăng nhận xét